Sơn La: Hiệu quả từ mô hình xử lý nước thải sơ chế cà phê hộ gia đình cho đồng bào DTTS

Nguyễn Nga | 18/10/2021, 22:42

(TN&MT) - Để xử lý nước thải trong hoạt động sơ chế cà phê quả tươi đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, từ niên vụ 2020 - 2021, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã thực hiện thí điểm mô hình xử lý nước thải tại hộ gia đình ông Lò Văn Nghĩa, bản Phiêng Quài, xã Chiềng Ban.

Những năm gần đây, việc ô nhiễm môi trường do hoạt động sơ chế, chế biến cà phê luôn là vấn đề nhức nhối tại tỉnh Sơn La. Tại huyện Mai Sơn, với diện tích trồng cà phê khoảng trên 6.000ha, sản lượng quả cà phê tươi hàng năm là rất lớn. Dù trên địa bàn huyện có 2 nhà máy sơ chế cà phê đủ điều kiện về môi trường thực hiện thu mua, sơ chế, nhưng vẫn chưa đủ công suất để đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Do đó, còn tình trạng các hộ sơ chế cà phê nhỏ lẻ, không có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật và xả thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trường.

Để thực hiện mô hình, hộ sơ chế Lò Văn Nghĩa đã bố trí 2.500m2 đất xây dựng khu vực hệ thống xử lý nước thải.

Trong khi, địa hình địa chất huyện Mai Sơn rất phức tạp, nhiều hệ thống hang Karst nên việc xác định chủ thể gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất gặp nhiều khó khăn, khó giải quyết dứt điểm, gây bức xúc cho nhân dân. Để xử lý chất thải sơ chế cà phê quả tươi, đòi hỏi kinh phí lớn, trong khi các hộ phần lớn là nông dân, thu nhập chủ yếu dựa vào mùa vụ cà phê.

Ông Phạm Duy Hùng, Phó trưởng phòng TN&MT huyện Mai Sơn cho biết: Trước thực trạng đó, từ năm 2020, Phòng TN&MT đã tham mưu cho UBND huyện lựa chọn 1 hộ gia đình tại xã Chiềng Ban để xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong hoạt động sơ chế cà phê quả tươi quy mô nông hộ.

Tổng kinh phí thực hiện mô hình hơn 213 triệu đồng, trong đó, vốn do nhân dân bỏ ra khoảng 87 triệu đồng. Thực hiện theo hình thức nhà nước hỗ trợ kinh phí mua vật liệu lót chống thấm (bạt HDPE), các hạng mục còn lại theo mô hình hộ gia đình thực hiện.

Việc xử lý nước thải sơ chế cà phê được áp dụng đúng theo hướng dẫn tại Công văn số 204/HD-STNMT ngày 4/7/2019 của Sở TN&MT Sơn La về quy trình ủ vỏ cà phê làm phân hữu cơ và xử lý nước thải sơ chế cà phê theo hướng tái sử dụng chất thải với cơ sở sơ chế cà phê quy mô hộ gia đình.

Trong quá trình triển khai thi công mô hình, huyện Mai Sơn đã thường xuyên kiểm tra, giám sát, hướng dẫn hộ sơ chế đảm bảo đúng quy trình, quy định.

Quá trình xử lý nước thải gồm các bước: Nước thải cà phê được dẫn về bể tách vỏ, bổ sung vôi bột để điều chỉnh độ axit của nước thải, thời gian lưu tại bể tách vỏ là 1 ngày. Tiếp đó, nước thải được dẫn sang bể kỵ khí (biogas), thể tích bể kỵ khí đảm bảo chứa nước thải sản xuất trong thời gian tối thiểu 24 ngày, sử dụng thêm men vi sinh để làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm; bể hiếu khí, và hồ lưu giữ nước thải có thể tích đảm bảo chứa được hết lượng nước thải phát sinh trong thời gian hơn 1 mùa vụ sản xuất của cơ sở. Hộ gia đình được lựa chọn hỗ trợ xây dựng thí điểm bảo đảm đủ diện tích đất để xây dựng hệ thống nước thải.

Là hộ gia đình được lựa chọn triển khai mô hình, ông Lò Văn Nghĩa, bản Phiêng Khoài, xã Chiềng Ban cho biết: Tôi triển khai thi công mô hình từ đầu tháng 9/2020, đến nay đã hoàn thành và đi vào vận hành hơn 1 năm. Mô hình này đáp ứng công suất 1.000 tấn quả tươi/vụ, năm trước tôi chỉ sơ chế khoảng 400-500 tấn quả tươi/vụ. Năm nay thì sơ chế khoảng 800 tấn quả cà phê của gia đình và thu mua cho người dân nơi khác về.

“Trước đây, để xử lý nước thải cà phê, tôi chỉ đào các hồ chứa và lót bạt, ảnh hưởng về mùi và nguy cơ ô nhiễm là có. Nhưng từ niên vụ năm ngoái, không còn hiện tượng ô nhiễm về mùi và nước thải, cho thấy mô hình đã cho hiệu quả rất tích cực. Không chỉ thế, tôi còn có thể tái sử dụng nước thải để tưới cây, giảm chi phí mua phân bón, lại rất tiết kiệm nước. Nếu như trước, sơ chế 1 tấn quả cà phê tươi mất 3m3 nước thì nay chỉ cần 0,7m3. Các hộ sơ chế khác trên địa bàn cũng đang theo dõi hiệu quả mô hình này và mong muốn được huyện hỗ trợ để triển khai” – ông Lò Văn Nghĩa chia sẻ.

Qua hơn 1 năm vận hành, mô hình thí điểm xử lý nước thải sơ chế cà phê đã cho thấy hiệu quả rõ nét.

Bà Lò Thị Hoa, người dân sinh sống cạnh cơ sở cũng rất phấn khởi, bởi từ niên vụ cà phê 2020-2021, người dân quanh khu vực không còn bị ảnh hưởng do ô nhiễm cà phê. “Mọi năm khu vực này mùi nước thải cà phê lắm, nhưng từ năm 2020 tới nay thì làm chuẩn hơn nhiều rồi, không bị ô nhiễm nữa” – bà Hoa nói.

Được biết, huyện Mai Sơn đang tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả mô hình thí điểm về xử lý nước thải trong hoạt động sơ chế cà phê tươi, để từ đó, đề xuất nhân rộng mô hình trong thời gian tiếp theo, đảm bảo khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sơ chế, chế biến cà phê trên địa bàn huyện.

Bài liên quan
  • An Lão (Bình Định): Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường
    (TN&MT) - Từ chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể và sự hưởng ứng tích cực của người dân, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện An Lão (tỉnh Bình Định) thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển bền vững.

(0) Bình luận
Nổi bật
Bình Thuận: Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp giảm nghèo bền vững
(TN&MT) -Thời gian qua, thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo bền vững, tỉnh Bình Thuận không những tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo tham gia vay và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để phát triển kinh tế, mà còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm kịp thời ứng phó với tình hình hạn hán, giải quyết nhu cầu về nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho người dân địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Bảo Thắng - Lào Cai: Bảo vệ tài nguyên khoáng sản để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên môi trường, quản lý và bảo vệ chặt khoáng sản chưa khai thác, nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đó là cách mà huyện Bảo Thắng đang làm trong việc bảo vệ khoáng sản để phát triển bền vững và giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  •  “Đổi đời” từ rừng xanh
    (TN&MT) - Nhiều năm qua, việc phát triển trồng rừng gỗ lớn đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế (FSC) đã giúp người dân tại Thừa Thiên – Huế thoát nghèo và vươn lên làm giàu, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH).
  • Kon Tum: Người dân thoát nghèo nhờ quản lý, bảo vệ rừng
    (TN&MT) - Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) triển khai trên địa bàn tỉnh Kon Tum những năm qua không chỉ nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mà còn là công cụ đắc lực hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
  • Kon Tum: Tích cực vận động người đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ môi trường
    (TN&MT) - Để phong trào bảo vệ môi trường lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng dân cư, đặc biệt là ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), các cấp chính quyền địa phương và hội, đoàn thể tỉnh Kon Tum đã tích cực vận động người dân cùng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở thôn, làng.
  • “Xanh  - sạch - sáng” các thánh đường ở Cố đô Huế
    (TN&MT) - Thời gian qua, giáo dân Công giáo ở các xứ đạo trung tâm TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) đã tích cực tham gia bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan “xanh - sạch – sáng” trong khuôn viên các thánh đường, thể hiện tinh thần “sống tốt đời đẹp đạo”.
  • Gìn giữ nét đẹp truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Thành phố Sơn La có có trên 106.000 người, 12 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, dân tộc Thái chiếm trên 52% dân số. Để gìn giữ, bảo tồn, khôi phục các phong tục tập quán tốt đẹp, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng các dân tộc thành phố, năm 2020, Thành ủy Sơn La đã ban hành Đề án số 04 – ĐA/TU, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thành phố, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc tiểu vùng Tây Bắc giai đoạn 2020 – 2025.
  • Phát triển Kinh tế gắn với gìn giữ bản sắc văn hoá vùng DTTS&MN - Bài 1:  “Đòn bẩy” từ Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2030
    (TN&MT) - Năm 2022, các địa phương đang tích cực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; phát huy tốt nhất nguồn lực từ chương trình để từng bước thay đổi bộ mặt và nâng cao chất lượng đời sống gắn với gìn giữ bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Bình Thuận: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất của đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Trong những năm qua, tỉnh Bình Thuận đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), góp phần ổn định các khu dân cư, khu sản xuất cho đồng bào DTTS, đồng thời, góp phần bảo đảm cho việc phát triển toàn diện cả về kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương.
  • Bến Tre: Quan tâm đồng bào DTTS xây dựng quê hương giàu mạnh
    (TN&MT) - Thời gian qua, công tác tham mưu thực hiện chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp, các ngành tỉnh Bến Tre; đặc biệt trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn, góp phần cùng cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường (BVMT), ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), đoàn kết gắn bó, chung tay xây dựng quê hương.
  • Cần Thơ: Tăng cường công tác cấp giấy CNQSDĐ cho đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trong thời gian qua, các cơ quan chức năng của TP. Cần Thơ đã tăng cường công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố nói chung, người dân tộc thiểu số (DTTS) nói riêng.
  • Chứng nhận rừng theo tiêu chuẩn FSC góp phần bảo vệ môi trường nhìn từ cơ sở
    Diện tích rừng ở Việt Nam hàng chục năm qua đang suy giảm nghiêm trọng, một phần là do chặt phá rừng bừa bãi và nạn buôn lậu gỗ, cũng như chính sách lỏng lẻo trong quản lý và khai thác rừng của chúng ta đem đến. Để quản lý rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống và hành trình tiêu thụ sản phẩm từ rừng, Tuyên Quang là một trong những tỉnh tiên phong và đã đem lại hiệu quả nhất hiện nay.
  • Quế Phong (Nghệ An): Đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề cấp “sổ đỏ”
    (TN&MT) - Qua thống kê sơ bộ trên địa bàn huyện Quế Phong hiện có trên 80% phụ nữ đứng tên trong “sổ đỏ” của gia đình. Để đạt được kết quả này là một nỗ lực rất lớn của cả cán bộ và người dân trên địa bàn huyện và sự hỗ trợ của Dự án “Tăng cường kiến thức pháp luật và hỗ trợ pháp lý để đảm bảo quyền bình đẳng về đất đai của phụ nữ dân tộc thiểu số” do Viện tư vấn Phát triển Kinh tế- Xã hội nông thôn và miền núi (CISDOMA) hỗ trợ thực hiện.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO