Đắk Nông: Gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí đất cho người đồng bào

Phạm Hoài | 29/04/2022, 15:48

(TN&MT) - Đắk Nông có 40 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó gần 213.000 người là đồng bào DTTS, chiếm 31% dân số toàn tỉnh. Tuy nhiên, với áp lực dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào ngày một nhiều nên việc bố trí đất ở cũng như đất sản xuất cho người dân ở một số huyện như Tuy Đức, Đắk Glong đang gặp rất nhiều khó khăn.

Áp lực dân di cư tự do

Tỉnh Đắk Nông đang có 246.984 ha rừng và 81.308 ha đất lâm nghiệp. Toàn tỉnh cũng đang có khoảng 67.400 ha đất có nguồn gốc từ phá rừng đang bị chiếm dụng. Đối tượng lấn chiếm đất rừng chủ yếu là dân di cư tự do (DCTD).

Trên địa bàn tỉnh đang có 38.191 hộ, với 173.973 nhân khẩu là dân DCTD từ các tỉnh phía Bắc đến sinh sống. Đến nay, tỉnh đã cơ bản ổn định được nơi ở, sản xuất cho dân DCTD. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 7.931 hộ dân DCTD chưa ổn định, trong đó có 5.743 hộ, với 16.792 khẩu đang sống trên đất lâm nghiệp. Dân DCTD vào Đắk Nông chủ yếu là các hộ nghèo, sinh sống phân tán, rải rác ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, xen lẫn trong các khu rừng.

1(2).jpg
Nhiều diện tích đất rừng bị lấn chiếm tại một số địa phương

Cụ thể, tại huyện Đắk Glong, tính từ năm 2005 tới nay, toàn huyện có gần 3.700 hộ với hơn 17.000 nhân khẩu đã di cư tự do đến 7 xã trong huyện, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc. Trong đó, nhiều nhất là người Mông (hơn 2.100 hộ với hơn 12.000 khẩu). Các hộ di cư tự do thường sống theo các nhóm, tập trung theo dòng họ, cùng dân tộc, tôn giáo đến định cư tại các vùng riêng lẻ trong rừng, trong các thung lũng, dọc các khe suối. Đa phần đời sống của họ gắn với săn bắn, trồng cây ngắn ngày như ngô, sắn…

Theo ông Trần Nam Thuần – Chủ tịch UBND huyện Đắk G’long, tình trạng di cư tự do kéo dài đã và đang gây ra nhiều khó khăn cho địa phương trong quản lý nhân hộ khẩu, tiếp tục gây áp lực lên tài nguyên rừng. Phần lớn các hộ dân chưa được đưa vào vùng dự án đang xâm chiếm rừng, đất rừng đã được UBND tỉnh giao cho các công ty, doanh nghiệp và các đơn vị khác quản lý, bảo vệ. Vì vậy, việc sắp xếp, ổn định các hộ dân di cư tự do là vấn đề bức thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm quyền lợi của người dân cũng như “gỡ khó” cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

anh-2.jpg

Cán bộ kiểm lâm hỗ trợ, hướng dẫn cho người dân trồng lại rừng tại một số khu vực bị lấn chiếm

Do tác động của dân DCTD, nên công tác quy hoạch phát triển rừng của Đắk Nông liên tục phải thay đổi. Chỉ tính từ năm 2007 đến nay, tỉnh phải mất 4 lần rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch ba loại rừng. Tỉnh đã phải đưa 87.050 ha đất lâm nghiệp bị dân DCTD lấn chiếm ra ngoài quy hoạch ba loại rừng, vì rất khó thu hồi để phát triển rừng theo kế hoạch.

Cần phải có giải pháp “căn cơ”

Theo ông Bùi Thanh Hà – Phó Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Đắk Nông, trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai thực hiện đầu tư 12 dự án bố trí, sắp xếp dân cư với tổng số vốn được phê duyệt của các dự án là 1.436,969 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương là 1.194,459 tỷ đồng và nguồn vốn khác là 242,510 tỷ đồng. Qua triển khai thực hiện, từ năm 2016 đến tháng 7/2021, tổng số hộ đã được bố trí ổn định là 4.448 hộ, trong đó, số hộ được bố trí ổn định tại các dự án tập trung là 4.185 hộ, số hộ được bố trí vào các dự án xen ghép là 263 hộ.

3(1).jpg

Người đồng bào được bố trí đất ở tại Khu tái định cư xã Đắk P'lao, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông để ổn định cuộc sống

Theo đó, để đảm bảo ổn định đời sống cho người dân di cư, phát triển kinh tế, giúp địa phương thực hiện tốt công tác quản lý đất đai gắn với quản lý dân cư; Sở TN&MT đã tham mưu UBND tỉnh Đắk Nông, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh báo cáo Tỉnh ủy Đắk Nông Kết luận tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 27/7/2016 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, sử dụng đất đai gắn với quản lý dân cư giai đoạn 2016 - 2020.

Trong đó, tỉnh Đắk Nông đã đề ra giải pháp cụ thể, bên cạnh đề xuất với Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương xem xét, hỗ trợ kinh phí cho tỉnh thực hiện các dự án dân di cư tự do, giải quyết các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực đất đai, quản lý dân di cư tự do cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương thì tỉnh Đắk Nông cũng phải chủ động bố trí nguồn lực thực hiện các dự án ổn định dân di cư tự do trên địa bàn tỉnh.

  Liên quan đến vấn đề này, đại diện lãnh đạo UBND tỉnh cho biết, để đạt được những mục tiêu trên, tỉnh xác định cần phải triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, cụ thể, sát thực, phù hợp với vùng đồng bào DTTS và thực tế phát triển trong những năm tới. Trong đó, giải pháp đầu tiên được nêu ra là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức cho cán bộ, đảng viên, hội viên, người DTTS. Tiếp đến là các cấp, ngành, địa phương tập trung giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt, xóa nhà tạm, quy hoạch bố trí, sắp xếp dân di cư. Cùng với đó, các giải pháp về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa theo chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng y tế, phát triển giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch vùng DTTS được đẩy mạnh. Theo Ban Dân tộc tỉnh, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS, miền núi tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã đề xuất Trung ương bố trí trên 3.511 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ trên 2.600 tỷ đồng, còn lại là ngân sách địa phương, vốn vay và vốn huy động. Tỉnh còn đề xuất tăng vốn cho Dự án quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư và Dự án phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân.

Bên cạnh đó, tỉnh Đắk Nông sẽ tập trung thực hiện lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư dứt điểm các dự án theo quy hoạch đã được phê duyệt và đã bố trí kinh phí; tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân di cư tự do được bố trí, sắp xếp nơi ở và được nhập khẩu tại địa phương, giúp người dân nhanh chóng ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất và được hưởng các phúc lợi xã hội.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Chính sách đất đai cho đồng bào DTTS - Bài 4: Rà soát quỹ đất nông lâm trường để giao cho đồng bào
(TN&MT) - Thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước, thời gian qua, việc sắp xếp quỹ đất các nông, lâm trường đã có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, các địa phương còn lúng túng do chưa có quy định chi tiết về việc thu hồi quỹ đất do công ty nông, lâm nghiệp bàn giao cho địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 3: Sơn La rà soát đất nông lâm trường để cấp đất cho đồng bào
    (TN&MT) - Là tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh Sơn La có hơn 1,2 triệu dân, 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó, hơn 83% là đồng bào dân tộc thiểu số. Những năm qua, tỉnh Sơn La rất chú trọng thực hiện chính sách về đất đai cho người dân, góp phần thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 2: Cao Bằng tập trung giải quyết khó khăn
    (TN&MT) - Là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, có đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm gần 95% dân số toàn tỉnh, tỉnh Cao Bằng đã chú trọng triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm hỗ trợ cho người dân vùng đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có thêm điều kiện ổn định cuộc sống. Song, việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trong vùng đồng bào các DTTS vẫn còn là một “bài toán khó” đối với tỉnh Cao Bằng.
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 1: Đưa chính sách đến với đồng bào
    (TN&MT) - Nhiều năm qua, các tỉnh Tây Bắc có chung một thực trạng, các dự án phát triển hạ tầng xây dựng, dự án trồng cây công nghiệp, mục tiêu quy hoạch 3 loại rừng… là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đồng bào các DTTS bị thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất.
  • Nước sạch cho người dân miền núi các tỉnh miền Trung - Bài 3: Công trình nước sạch không phát huy hiệu quả
    (TN&MT)- Thực tế cho thấy, những năm qua, các địa phương Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi…..đã đầu tư, xây dựng hàng trăm công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho bà con miền núi. Tuy nhiên, sau một thời gian đưa vào sử dụng, đến nay nhiều công trình đang xuống cấp, hư hỏng, không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
  • Tây Giang (Quảng Nam): Hiệu quả bảo vệ môi trường với mô hình lò đốt rác
    (TN&MT)- Những năm gần đây, khi đặt chân đến các thôn bản ở nhiều xã, thị trấn tại huyện miền núi Tây Giang nhiều người không khỏi bất ngờ vì đường sá luôn thông thoáng, sạch đẹp. Thành quả lớn này có được là nhờ mô hình lò đốt rác trong các khu dân cư.
  • Nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền Trung - Bài 2: Vùng cao lao đao vì thiếu nước
    (TN&MT)- Nắng nóng, nước ngày càng khan hiếm. Để có nước sinh hoạt, người dân các huyện vùng cao ở miền Trung phải tận dụng từng bình chứa, băng rừng lên tận suối nơi đầu nguồn để lấy nước về dùng hoặc sử dụng nước mưa, thậm chí là nước giếng chưa qua xử lý bị nhiễm phèn, bẩn.
  • Gia Lai: Đưa nước sạch về với buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) – Từ những chương trình, dự án phối hợp với đơn vị, tổ chức quốc tế và trong nước, tỉnh Gia Lai đã đưa nhiều giếng nước, công trình nước sạch về tại các buôn làng người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), giúp bà con được sử dụng nước hợp vệ sinh và dần nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Vùng đồng bào DTTS tích cực bảo vệ môi trường
    (TN&MT) - Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên, môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm thực hiện và có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường (BVMT), nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại các xã vùng sâu, vùng xa.
  • Nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền Trung - Bài 1: Thách thức nước sinh hoạt cho người dân vùng cao
    (TN&MT) - Dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) cộng với sự suy giảm rõ rệt về nguồn nước, hàng loạt các địa phương miền núi ở khu vực Trung bộ thiếu hụt nước sinh hoạt nghiêm trọng. Thiếu nước sạch không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống dân sinh. Đây là thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của vùng miền núi Trung bộ nói riêng, cả nước nói chung.
  • Đắk Nông: Gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí đất cho người đồng bào
    (TN&MT) - Đắk Nông có 40 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó gần 213.000 người là đồng bào DTTS, chiếm 31% dân số toàn tỉnh. Tuy nhiên, với áp lực dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào ngày một nhiều nên việc bố trí đất ở cũng như đất sản xuất cho người dân ở một số huyện như Tuy Đức, Đắk Glong đang gặp rất nhiều khó khăn.
  • Nghệ An: Nỗ lực xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng cao
    (TN&MT) - Do nhiều lý do khác nhau nên vấn đề thu gom, xử lý rác thải rắn sinh hoạt ở các huyện vùng cao của tỉnh Nghệ An trước đây gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các huyện như Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn… đang hết sức nỗ lực để giải quyết bài toán này.
  • Hiệu quả mô hình thu gom rác thải trong chăn nuôi ở vùng cao Bắc Hà
    (TN&MT) - Mô hình “thu gom rác thải trong chăn nuôi” của chi hội phụ nữ thôn Sán Sả Hồ, xã Thải Giàng Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai với 15 chị em hội viên tham gia. Đây là mô hình đầu tiên triển khai trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện vùng cao Bắc Hà nhằm tạo thu nhập và nâng cao vai trò của chị em trong việc bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan thiên nhiên xanh - sạch - đẹp.
  • Nguyên Bình (Cao Bằng): Nâng cao ý thức BVMT vùng đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Với đặc thù là huyện có đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm tỷ lệ cao, những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) được huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) đặc biệt quan tâm, chú trọng và triển khai nhiều giải pháp, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức, ý thức và thói quen của mỗi người dân trong công tác BVMT, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO