Phát triển bền vững

Yên Bái: Hơn 50% diện tích có nguy cơ trượt lở đất đá nguy hiểm

Hải Đăng 17:34 29/09/2023

Hơn 70% số xã với hơn 50% tổng diện tích tỉnh Yên Báo có nguy cơ trượt lở đất đá ở mức cao và rất cao. Việc đánh giá hiện trạng và xây dựng được bộ bản đồ phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá có vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai.

Năm 2016, sau khi hoàn thành Đề án “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam” tại tỉnh Yên Bái, Bộ TN&MT đã chuyển giao và hướng dẫn cho địa phương sử dụng bộ bản đồ này.

* Xác định 5 mức độ nguy cơ trượt lở đất đá

Theo Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản, nản đồ phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Yên Bái (bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 179 đơn vị hành chính cấp xã) được thành lập với 5 mức độ nguy cơ: rất cao, cao, trung bình, thấp và rất thấp.

Trong đó, diện phân bố của mỗi cấp phân vùng chiếm tỷ lệ như sau: nguy cơ trượt lở đất đá rất cao chiếm ~18% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Yên Bái; nguy cơ trượt lở đất đá cao ~32%, nguy cơ trượt lở đất đá trung bình ~28%, nguy cơ trượt lở đất đá thấp ~4% và nguy cơ trượt lở đất đá rất thấp ~18%. Do vậy, tỉnh Yên Bái được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá cao trong khu vực miền núi Việt Nam.

do-thi-yen-bai.jpg
Biểu đồ thống kê (km2) diện tích phân bố các phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá trong từng huyện thuộc tỉnh Yên Bái

Kết quả phân vùng và đánh giá mức độ nguy cơ trượt lở đất đá cho 9 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Yên Bái cho thấy, có 3 huyện được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao, bao gồm các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu và Văn Yên; có 3 huyện được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá cao, bao gồm các huyện Lục Yên, Trấn Yên và Văn Chấn; có 3 huyện được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá trung bình, bao gồm huyện Yên Bình, TP. Yên Bái và thị xã Nghĩa Lộ.

Đánh giá tổng thể ở từng khu vực theo đơn vị hành chính cấp xã thì trong số 179 xã/phường của tỉnh Yên Bái, có 53 xã được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao, 77 xã được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá cao, 42 xã được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá trung bình, 2 xã được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá thấp và 5 xã được xác định có nguy cơ trượt lở đất đá rất thấp.

* 1/4 diện tích huyện Văn Yên nằm trong vùng nguy cơ rất cao

Vùng có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao phân bố trên địa bàn tỉnh Yên Bái với tổng diện tích ~1.200 km2, chiếm tỷ lệ ~18% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao có diện phân bố lớn nhất ở huyện Văn Yên (~322 km2), kế đến là các huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu (~220 km2), Văn Chấn (~195 km2), Lục Yên (~122 km2), ít hơn ở các huyện Trấn Yên (~80 km2), Yên Bình (~44 km2), ít nhất ở Thành phố Yên Bái (~3 km2) và rải rác một số diện tích nhỏ ở Thị Xã Nghĩa Lộ (dưới 0.4 km2).

Riêng ở huyện Văn Yên, diện tích có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao phân bố trên huyện này đã chiếm trên 1/4 tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao của toàn tỉnh Yên Bái.

Xét trong phạm vi từng huyện, diện phân bố các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất cao chiếm gần 1/3 diện tích huyện Trạm Tấu, chiếm gần 1/4 diện tích huyện Văn Yên, chiếm gần 1/5 diện tích huyện Mù Cang Chải; ở các huyện khác chỉ chiếm dưới 17% diện tích mỗi huyện.

sat-lo-yen-bai-2.jpg
Sơ đồ phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá khu vực tỉnh Yên Bái

* 32% diện tích tỉnh có nguy cơ cao về trượt lở đất đá

Vùng có nguy cơ trượt lở đất đá cao phân bố trên địa bàn tỉnh Yên Bái với tổng diện tích ~2.200 km2, chiếm tỷ lệ ~32% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá cao có diện phân bố lớn nhất ở huyện Văn Yên (~572 km2), kế đến là các huyện Mù Cang Chải (~453 km2), Văn Chấn (~363 km2), Trạm Tấu (~286 km2), Lục Yên (210 km2), Trấn Yên (~180 km2), Yên Bình (~130 km2), ít nhất ở Thành phố Yên Bái (~13 km2) và Thị xã Nghĩa Lộ (~3 km2).

Riêng hai huyện Văn Yên và Mù Cang Chải, tổng diện tích có nguy cơ trượt lở đất đá cao phân bố trên hai huyện này đã chiếm trên 46% tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá cao của toàn tỉnh Yên Bái.

Xét trong phạm vi từng huyện, diện phân bố các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá cao chiếm tỷ lệ khá lớn trên địa bàn một số huyện trong tỉnh Yên Bái, trong đó lớn nhất là chiếm ~41% diện tích huyện Văn Yên; ~38% diện tích các huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải; ~26-29% diện tích các huyện Trấn Yên và Lục Yên; ~17% diện tích huyện Yên Bình; ~12% diện tích TP. Yên Bái và ~9% diện tích thị xã Nghĩa Lộ.

sat-lo-dat-o-mu-cang-chai-thang-8-2023-trong-bao.jpg
Yên Bái thường hứng chịu các trận lũ quét và sạt lở đất đá nguy hiểm (Ảnh: Sạt lở đất ở Mù Cang Chải tháng 8/2023 - ảnh: Trọng Bảo)

* Huyện Yên Bình “khá bình yên” với trượt lở đất đá

Xét ở mức độ nguy cơ thấp và rất thấp, thì huyện Yên Bình có diện tích phân bố khá lớn.

Các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá thấp có diện phân bố lớn nhất ở các huyện Văn Chấn (~60 km2), kế đến là các huyện Yên Bình và Lục Yên (~47-50 km2), Mù Cang Chải (~35 km2), Trấn Yên (~28 km2), Trạm Tấu (~15 km2), Văn Yên (~8 km2), Thành phố Yên Bái (~6 km2) và ít nhất ở Thị xã Nghĩa Lộ (~2 km2). Riêng hai huyện Văn Chấn và Yên Bình: tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá thấp phân bố trên hai huyện này chiếm ~43% tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá thấp của toàn tỉnh Yên Bái.

Các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất thấp có diện phân bố lớn nhất ở huyện Yên Bình (~350 km2), kế đến là các huyện Lục Yên (~224 km2), Văn Yên (~200 km2), Văn Chấn (~187 km2), Trấn Yên (~155 km2), Mù Cang Chải và TP. Yên Bái (~54 km2), ít nhất ở huyện Trạm Tấu và TX. Nghĩa Lộ (~17-20 km2).

Riêng hai huyện Yên Bình và Lục Yên, tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất thấp phân bố trên hai huyện này chiếm ~45% tổng diện tích các khu vực có nguy cơ trượt lở đất đá rất thấp của toàn tỉnh Yên Bái.

Bài liên quan
  • Giải pháp giảm thiểu sạt lở đất đá dựa vào tự nhiên
    (TN&MT) - Những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều vụ sạt lở đất đá, lũ quét đặc biệt tại khu vực miền núi Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt của người dân.

(0) Bình luận
Nổi bật
Cùng giữ “hồn cốt” văn hóa Thái
Mỗi người một vẻ, một thế mạnh, những người dân tộc Thái ở làng Thái cổ Hoa Tiến (xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An) đều đang lưu giữ, lan tỏa, phát triển “hồn cốt” của văn hóa đồng bào dân tộc Thái nơi bản làng vùng cao xứ Nghệ này.
Đừng bỏ lỡ
  • Bắc Quang – Hà Giang: Đưa nhiều chương trình vì mục tiêu giảm nghèo tới gần người dân
    Hàng loạt chương trình mục tiêu giảm nghèo của Trung ương và tỉnh Hà Giang đang được huyện Bắc Quang tích cực triển khai sâu rộng tới người dân thông qua các kế hoạch, đề án, dự án cụ thể và có kiểm tra, giám sát nghiêm túc, nhờ đó bước đầu đã giải quyết việc làm, tạo sinh kế bền vững cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa của huyện Bắc Quang.
  • Phú Yên: Tìm giải pháp cho những công trình nước sạch vùng nông thôn, vùng đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Phú Yên là một trong số những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán. Người dân nhiều địa phương trong tỉnh, đặc biệt là khu vực miền núi thường xuyên thiếu nước sinh hoạt. Tuy nhiên, nghịch lý là hiện nay hàng chục công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung do Nhà nước đầu tư xây dựng đã bị bỏ hoang từ nhiều năm qua.
  • Nuôi dê thương phẩm giúp nhiều hộ dân đổi đời
    Thời gian qua, việc chia sẻ kinh nghiệm nuôi dê thương phẩm và liên kết trong chăn nuôi, bao tiêu sản phẩm đang từng bước đem lại hiệu quả kinh tế lớn, đồng thời mở ra hướng đi mới cho hàng chục hộ dân ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Theo số liệu báo cáo, ước tính tổng đàn Dê thương phẩm của huyện đến hết tháng 6/2023 đạt khoảng 10.000 con.
  • Mường Lát (Thanh Hóa): Cuộc sống mới ở khu tái định cư
    Bản Ón, xã Tam Chung, huyện Mường Lát (Thanh Hóa) có 100% là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Đa số người dân trong bản thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Phần lớn các hộ dân dựng nhà bên những sườn núi cheo leo, nên luôn phải đối mặt với nguy cơ lũ quét, sạt lở rất cao vào mùa mưa lũ. Nhưng giờ đây người dân trong bản không còn phải nơm nớp lo sợ, bởi khu tái định cư do Nhà nước đầu tư khang trang, đồng bào đã và đang bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.
  • Bắc Quang - Hà Giang: Nỗ lực giúp dân xóa nghèo bền vững
    Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 1/11/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về Chương trình cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ để tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, huyện Bắc Quang đã chủ động tuyên truyền, xây dựng kế hoạch và triển khai hiệu quả giúp hàng chục hộ dân xóa nghèo và vươn lên khá giả.
  • Sắc xanh xứ đạo xã Phú Sơn
    Bà con giáo xứ tại xã Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn (Thanh Hóa) luôn nêu cao phương châm sống “tốt đời đẹp đạo”, tự giác nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm.
  • Theo chân cán bộ kiểm lâm “cắm bản”
    (TN&MT) - Dọc theo những con đường đến với xã vùng biên Phiêng Pằn của huyện Mai Sơn (Sơn La), trên những quả đồi bạc màu, hoang hóa ngày nào, đang xanh lên màu xanh của những cánh rừng. Trong thành công ấy, có bóng dáng, sự nỗ lực quên mình của người kiểm lâm viên địa bàn ngày ngày “bám đất, bám rừng”.
  • Cây dược liệu- Cây xóa nghèo bền vững ở các huyện miền Núi
    Cùng với chính sách xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ, trong những năm gần đây, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra nhiều chương trình xóa đói, giảm nghèo cho bà con các huyện miền Núi. Trong những chương trình đó thì phát triển nguồn lực tại chỗ là một trong những thế mạnh của người dân như: Phát triển và bảo vệ rừng, trồng cây lâm nghiệp, nông nghiệp, trồng dược liệu… Nhờ đó, người dân vùng sâu, vùng xa Xứ Thanh đã thoát nghèo bền vững.
  • Lễ cầu mưa của dân tộc Hà Nhì
    (TN&MT) - Hàng năm từ 15/5 - 15/7 (âm lịch) người Hà Nhì ở Mường Nhé (Điện Biên) lại chuẩn bị cho Tết mùa mưa (Dế khù chà – theo tiếng Hà Nhì). Đây là dịp để người Hà Nhì cầu mong cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa tốt tươi, con cháu họ được sum vầy hạnh phúc. Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng tâm linh thì đó còn là thời điểm họ cảm tạ thần mưa đã dâng nước suối đủ tưới mát cây cối, ruộng đồng, không làm lũ ống, lũ quét... Cảm tạ đất trời đã che chở họ trong cả một năm qua.
  • Người Mạ giữ rừng vì giá trị truyền thống
    (TN&MT) - Nghề giữ rừng tại Vườn Quốc gia Tà Đùng (xã Đắk Som, huyện Đắk G’long) đã mang lại nguồn thu nhập cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số người Mạ từ khoản kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng. Với đại đa số các hộ dân tại đây, giữ rừng không chỉ mang lại thu nhập mà còn là trách nhiệm với tổ tiên và các thế hệ mai sau bởi nghề rừng được xem như một nghề truyền thống.
  • Đồng bào Cơ Tu giữ rừng
    (TN&MT) - Ngàn đời nay, đồng bào Cơ Tu ở huyện Tây Giang (Quảng Nam) xem rừng như người Mẹ vĩ đại che chở mang lại sự sống cho dân làng. Chính từ sự ngưỡng vọng, tôn vinh, trân trọng ấy nên người dân Tây Giang luôn yêu quý, bảo vệ rừng.
  • Chính sách cấp nước sạch cho bà con dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Hiện nay, nhiều thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, điều kiện cơ sở hạ tầng còn rất khó khăn và thiếu thốn, đặc biệt là thiếu nguồn nước sạch cho sinh hoạt của người dân. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 đã đưa vấn đề hỗ trợ nước sinh hoạt bao gồm hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung là một trong những trọng điểm.
  • Kinh nghiệm giữ rừng của người Tày Lạng Sơn
    Thôn Đông Đằng, xã Bắc Quỳnh (Bắc Sơn, Lạng Sơn) nằm cạnh một rừng nghiến cổ thụ xanh mướt. Bao đời nay, bằng tấm lòng yêu rừng, giữ rừng của người dân nơi đây, hàng trăm gốc nghiến quý giá vẫn giữ nguyên vẹn, sừng sững như minh chứng sống cho những thăng trầm, đổi thay trên vùng đất cách mạng Bắc Sơn.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO