Nước sinh hoạt cho người dân miền núi các tỉnh miền Trung - Bài 4: Linh hoạt cấp nước cho người dân

Anh Bình Dinh | 21/05/2022, 18:39

(TN&MT) - Làm thế nào để giải quyết bài toán thiếu nước sinh hoạt cho người dân miền núi ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu gây nắng nóng và kéo dài hiện nay là điều mà các cấp chính quyền và người dân thật sự trăn trở.

Đầu , quản hiệu quả các công trình cấp nước 

Để khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt, hàng năm, UBND huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam đã chủ động rà soát tình hình thiếu nước ở các khu vực dân cư, khu vực sản xuất để có phương án chủ động ứng phó nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại cho người dân trong tình hình khô hạn nhất. Trên cơ sở khảo sát khu vực nào có nguy cơ thiếu nước cao thì địa phương ưu tiên trong việc xây dựng các hệ thống cấp nước sinh hoạt.  

Ông Trần Văn Phước, Giám đốc Ban Quản lý Dự án Quỹ đất Đô thị huyện Tây Giang cho biết, mới đây, địa phương đã kéo một đường ống dẫn nước tạm dài 8km để dẫn nước từ suối Tr’lêê vào nhà máy nước Tây Giang, bổ sung nước sinh hoạt cho người dân. 

bai4-h1.jpg
Nhà máy nước sạch Tây Giang hoạt động ổn định nhờ được bổ sung thêm nguồn nước từ suối Tr’lêê

Đặc biệt, đường ống này được giao cho phòng nông nghiệp theo dõi, kiểm tra thẩm định chứ không giao về địa phương như trước đây. Điều này sẽ khắc phục được tình trạng không có quy chế vận hành, hư hỏng dẫn đến lãng phí như thời gian trước đây. Qua 1 năm triển khai đã cơ bản giải quyết được bài toán thiếu nước cho khu vực trung tâm huyện Tây Giang, góp phần ổn định đời sống sinh hoạt của người dân cũng như hoạt động sản xuất của các đơn vị, tổ chức.  

Về lâu dài, địa phương đề xuất tỉnh hỗ trợ xây dựng nhà máy nước mới với kinh phí 18 tỷ đồng. Đồng thời, tổ chức đánh giá đúng thực trạng của các công trình cấp nước sinh hoạt phục vụ người dân, nhất là ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã vùng sâu vùng xa. Từ đó, nghiên cứu xây dựng điểm cấp nước sạch được đầu tư bài bản ở mỗi xã và phải có tổ chức quản lý, với đội ngũ vận hành công trình có trình độ tay nghề, có kỹ năng sửa chữa, bảo dưỡng. 

Theo ghi nhận, khoảng 3 năm trở lại đây, mùa khô hạn ở Tây Giang kéo dài hơn, quá ít mưa. Việc dẫn nước là giải pháp tình thế. Về lâu dài, cần phải có nhà máy nước mới giải quyết được nhu cầu của người dân. Huyện đã đề xuất tỉnh về chủ trương lập dự án xây dựng nhà máy nước.” – ông Trần Văn Phước cho biết. 

Ông Sô Y Lũy - Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh Bình Định cho biết: Hiện nay, nguồn lực đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung cho người dân vùng nông thôn, miền núi gặp khó khăn, tỉnh Bình Định ưu tiên đầu tư cho những vùng thiếu nước nghiêm trọng nhất.  Trong thời gian tới, Ban Dân tộc HĐND tỉnh Bình Định tiến hành khảo sát thực tế từng địa phương, từng đập kè cụ thể để kiến nghị với Thường trực HĐND tỉnh, nhất là trình ra HĐND tỉnh thực hiện các công trình có hiệu quả hơn, xác định đúng trọng tâm trọng điểm để thực hiện đảm bảo trong công tác điều hành, vận hành nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu về cho nhân dân nhằm phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của các địa phương.  

bai4-h2.jpg
Nhà máy nước Nam Đông đang được xây dựng để đảm bảo nguồn nước bền vững cho người dân

Bên cạnh đó, tỉnh cũng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để trình Chính phủ cho phép thực hiện Dự án cấp nước sạch bền vững thích ứng biến đổi khí hậu thực hiện trong giai đoạn 2021-2025. 

Xây dựng nhà máy nước sạch quy mô 

Để đảm bảo cấp nước bền vững cho người dân huyện miền núi, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã kêu gọi đầu tư dự án xây dựng Nhà máy nước sạch Thượng Long (huyện Nam Đông). 

Nhà máy do Công ty Cổ phần Cấp nước Thừa Thiên - Huế (HueWACO) làm chủ đầu tư, có tổng mức đầu tư 50,8 tỷ đồng bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ. Nhà máy được thiết kế mang tính đặc trưng văn hóa địa phương theo kiến trúc nhà rông của người Cơ Tu. Đây cũng là nhà máy đầu tiên tại miền núi áp dụng công nghệ xử lý nước hiện đại. 

Ông Trương Công Hân - Tổng Giám đốc HueWACO thông tin, nhà máy áp dụng bể lắng thông minh chất lượng cao giúp nâng cao chất lượng nước, nước sau khi lắng lọc có độ đục luôn ≤ 0,025 NTU (thấp hơn 80 lần so với tiêu chuẩn Việt Nam), Fe, Mn ≤ 0,001mg/l (thấp hơn tiêu chuẩn Việt Nam 300 lần). Công ty sẽ lắp đặt hệ thống tuabin thủy điện trên đường ống nước thô để tạo điện năng cung cấp cho nhà máy, góp phần giảm chi phí vận hành, thân thiện với môi trường. Về quy hoạch sân vườn, công ty chú trọng trồng các loại cây xanh mang tính bản địa tạo thành cảnh quan xanh, sạch, độc đáo. 

bai4-h3-1.jpg
Được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh là mong ước của người dân ở các huyện vùng cao tỉnh Bình Định.  

“Dù gặp nhiều khó khăn, nhất là do ảnh hưởng thiên tai và dịch Covid-19, tuy nhiên, với mong muốn sớm đưa nước sạch đến với người dân, chúng tôi thường xuyên bám sát, theo dõi và đôn đốc tiến độ công trường, đôn đốc nhà thầu triển khai nhiều biện pháp, lập nhiều mũi thi công để hoàn thành mạng lưới, thông rửa, thử áp, đưa vào khai thác hàng chục km đường ống...”, ông Hân cho hay. 

Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế-  Lê Trường Lưu đã khảo sát, kiểm tra dự án và yêu cầu tỉnh ưu tiên bố trí nguồn vốn, đề nghị chủ đầu tư tăng cường nhân lực, vật lực để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa dự án vào sử dụng. 

Đồng thời, Bí thư Tỉnh ủy cũng chỉ đạo chủ đầu tư hướng đến xây dựng nhà máy trở thành điểm tham quan học tập cho các em học sinh; đồng thời phối hợp với huyện Nam Đông trong công tác tuyền truyền cho người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng đầu nguồn và nguồn nước nhằm góp phần đảm bảo an ninh nước lâu dài và phát triển bền vững. 

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Bình Thuận: Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp giảm nghèo bền vững
(TN&MT) -Thời gian qua, thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo bền vững, tỉnh Bình Thuận không những tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo tham gia vay và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để phát triển kinh tế, mà còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm kịp thời ứng phó với tình hình hạn hán, giải quyết nhu cầu về nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho người dân địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Bảo Thắng - Lào Cai: Bảo vệ tài nguyên khoáng sản để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên môi trường, quản lý và bảo vệ chặt khoáng sản chưa khai thác, nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đó là cách mà huyện Bảo Thắng đang làm trong việc bảo vệ khoáng sản để phát triển bền vững và giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  •  “Đổi đời” từ rừng xanh
    (TN&MT) - Nhiều năm qua, việc phát triển trồng rừng gỗ lớn đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế (FSC) đã giúp người dân tại Thừa Thiên – Huế thoát nghèo và vươn lên làm giàu, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH).
  • Kon Tum: Người dân thoát nghèo nhờ quản lý, bảo vệ rừng
    (TN&MT) - Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) triển khai trên địa bàn tỉnh Kon Tum những năm qua không chỉ nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mà còn là công cụ đắc lực hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
  • Kon Tum: Tích cực vận động người đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ môi trường
    (TN&MT) - Để phong trào bảo vệ môi trường lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng dân cư, đặc biệt là ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), các cấp chính quyền địa phương và hội, đoàn thể tỉnh Kon Tum đã tích cực vận động người dân cùng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở thôn, làng.
  • “Xanh  - sạch - sáng” các thánh đường ở Cố đô Huế
    (TN&MT) - Thời gian qua, giáo dân Công giáo ở các xứ đạo trung tâm TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) đã tích cực tham gia bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan “xanh - sạch – sáng” trong khuôn viên các thánh đường, thể hiện tinh thần “sống tốt đời đẹp đạo”.
  • Gìn giữ nét đẹp truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Thành phố Sơn La có có trên 106.000 người, 12 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, dân tộc Thái chiếm trên 52% dân số. Để gìn giữ, bảo tồn, khôi phục các phong tục tập quán tốt đẹp, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng các dân tộc thành phố, năm 2020, Thành ủy Sơn La đã ban hành Đề án số 04 – ĐA/TU, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thành phố, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc tiểu vùng Tây Bắc giai đoạn 2020 – 2025.
  • Phát triển Kinh tế gắn với gìn giữ bản sắc văn hoá vùng DTTS&MN - Bài 1:  “Đòn bẩy” từ Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2030
    (TN&MT) - Năm 2022, các địa phương đang tích cực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; phát huy tốt nhất nguồn lực từ chương trình để từng bước thay đổi bộ mặt và nâng cao chất lượng đời sống gắn với gìn giữ bản sắc văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Bình Thuận: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất của đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Trong những năm qua, tỉnh Bình Thuận đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), góp phần ổn định các khu dân cư, khu sản xuất cho đồng bào DTTS, đồng thời, góp phần bảo đảm cho việc phát triển toàn diện cả về kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương.
  • Bến Tre: Quan tâm đồng bào DTTS xây dựng quê hương giàu mạnh
    (TN&MT) - Thời gian qua, công tác tham mưu thực hiện chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp, các ngành tỉnh Bến Tre; đặc biệt trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn, góp phần cùng cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường (BVMT), ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), đoàn kết gắn bó, chung tay xây dựng quê hương.
  • Cần Thơ: Tăng cường công tác cấp giấy CNQSDĐ cho đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trong thời gian qua, các cơ quan chức năng của TP. Cần Thơ đã tăng cường công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố nói chung, người dân tộc thiểu số (DTTS) nói riêng.
  • Chứng nhận rừng theo tiêu chuẩn FSC góp phần bảo vệ môi trường nhìn từ cơ sở
    Diện tích rừng ở Việt Nam hàng chục năm qua đang suy giảm nghiêm trọng, một phần là do chặt phá rừng bừa bãi và nạn buôn lậu gỗ, cũng như chính sách lỏng lẻo trong quản lý và khai thác rừng của chúng ta đem đến. Để quản lý rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống và hành trình tiêu thụ sản phẩm từ rừng, Tuyên Quang là một trong những tỉnh tiên phong và đã đem lại hiệu quả nhất hiện nay.
  • Quế Phong (Nghệ An): Đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề cấp “sổ đỏ”
    (TN&MT) - Qua thống kê sơ bộ trên địa bàn huyện Quế Phong hiện có trên 80% phụ nữ đứng tên trong “sổ đỏ” của gia đình. Để đạt được kết quả này là một nỗ lực rất lớn của cả cán bộ và người dân trên địa bàn huyện và sự hỗ trợ của Dự án “Tăng cường kiến thức pháp luật và hỗ trợ pháp lý để đảm bảo quyền bình đẳng về đất đai của phụ nữ dân tộc thiểu số” do Viện tư vấn Phát triển Kinh tế- Xã hội nông thôn và miền núi (CISDOMA) hỗ trợ thực hiện.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO