Nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền Trung - Bài 1: Thách thức nước sinh hoạt cho người dân vùng cao

Lan Anh | 02/05/2022, 18:07

(TN&MT) - Dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) cộng với sự suy giảm rõ rệt về nguồn nước, hàng loạt các địa phương miền núi ở khu vực Trung bộ thiếu hụt nước sinh hoạt nghiêm trọng. Thiếu nước sạch không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống dân sinh. Đây là thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của vùng miền núi Trung bộ nói riêng, cả nước nói chung.

Suy kiệt nguồn nước 

Huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam có 5 dòng sông chính chảy qua, trong đó sông A Vương và sông Bung có lưu lượng dòng chảy lớn vào mùa mưa. Ngoài ra, còn có khoảng 100 con suối, khe nhỏ với lưu lượng nước ít. Bước vào thời điểm tháng 4-5 hàng năm, mực nước ở các sông, suối bắt đầu giảm dần, nhiều nơi xuống mức 50% so với lưu lượng chảy bình thường. BĐKH và các nhà máy thủy điện dày đặc ở thượng nguồn đã khiến nguồn nước ngày càng suy giảm, ảnh hưởng rất lớn đến việc cấp nước cho người dân.  

Theo ông Lê Hoàng Linh- Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Giang, cách đây 10 – 12 năm về trước các nguồn nước ở sông suối rất dồi dào. Trong suy nghĩ của người dân vùng cao “nước trời” là không bao giờ cạn. Nhưng giờ đây, thực tế đã hoàn toàn khác. “Tình trạng mất an ninh nguồn nước ngày càng bộc lộ rõ. Ví như ngày xưa đi vào rừng còn thấy nước chảy róc rách trong những con suối, giờ này thì những lòng suối bày trơ đá không còn chút nước, đến cả những con sông lớn nước cũng rút sâu trong những mùa khô.” – ông Linh chia sẻ  .

bai1-h1.jpg
Nước sinh hoạt đang nhu cầu bức thiếtnhiều địa bàn vùng đồng bào DTTS miền núi 

Cũng theo ông Linh, thời gian qua địa phương đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cấp nước cho người dân. Tuy nhiên, về mùa nắng hạn, khe suối ở các xã như Bhalêê, A tiêng, A xan, Ga ri…. hầu như khô kiệt nên nguồn nước cung cấp cho các công trình tự chảy ở các địa phương này hầu như không đủ áp lực về tận bản làng. Ở đồng bằng thiếu nước thì có thể bơm từ dưới sông lên rồi lọc, sử dụng nhưng ở miền núi người dân chỉ biết “ngước mặt lên trời cầu mưa”. Vấn đề đặt ra là phải có giải pháp căn cơ ứng phó với với BĐKH, nguồn tài nguyên nước được quản lý và sử dụng đa mục tiêu, hiệu quả, tiết kiệm. 

Tại Thừa Thiên Huế, khoảng 3 năm trở lại đây, đặc biệt năm 2021, hiện tượng BĐKH cực đoan làm lưu lượng nguồn nước các khe suối suy giảm mạnh. Một số nguồn khai thác như Khe Mệ - Nhà máy nước Chân Mây và một số nguồn nước khác như Khe Su - Nhà máy nước Lộc Trì (huyện Phú Lộc), suối Tà Rê của Nhà máy nước A Lưới (huyện A Lưới), lưu lượng nguồn nước thô từ các khe suối giảm từ 60 - 100m3/h (tương đương 30 - 60% công suất nhà máy), riêng suối Thượng Ngàn  đã khô cạn sớm, chỉ còn 15% công suất của nhà máy, nguy cơ thiếu nước hiện hữu. 

Nỗi lo an sinh cho người dân 

Thiếu nước sinh hoạt cũng trở thành nỗi ám ảnh bao trùm nhiều địa phương miền núi ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… Mặc dù miền Trung có hệ thống sông suối dày dặc nhưng đang trở nên cạn kiệt do tác động của BKHĐ. Mặt khác, những cánh rừng đầu nguồn bị chặt phá trái phép và người dân đốt nương làm rẫy khiến sông, suối bị cạn kiệt không có nước để phục vụ cho công trình nước sạch rồi hư hỏng, bỏ hoang gây lãng phí. Đây là một rào cản không nhỏ cho sự phát triển bền vững vùng đồng bào; đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ trong kế hoạch bố trí ngân sách địa phương để giải quyết nhu cầu bức thiết này cho người dân.   

Ông Hồ Đắc Chương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định cho biết, hiện nay toàn tỉnh chỉ có 26% người dân vùng nông thôn, miền núi được sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung. Còn lại phải sử dụng nước từ giếng khoan, giếng đào hoặc các công trình nước sạch phân tán từ Chương trình 134, 135 của Chính phủ, nguồn nước không ổn định. Việc người dân sử dụng nguồn nước suối, nước giếng khoan, giếng đào không hợp vệ sinh có nguy cơ mắc nhiều bệnh.  ấp nước sinh hoạt cho người dân vùng nông thôn, miền núi đang là vấn đề ưu tiên của địa phương trong những năm gần đây.  

bai1-h2.jpg
Nhiều hệ thống sông, suối lớn ở Quảng Nam cạn kiệt trong mùa khô  

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, đến năm 2030, dưới tác động của BĐKH và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, sẽ có 5 lưu vực sông lớn của Việt Nam phải đối mặt với mức độ căng thẳng về nước, 2 lưu vực rơi vào tình trạng căng thẳng nước trầm trọng. Bên cạnh đó, nguồn nước phân bố không đồng đều trong lãnh thổ dẫn đến tình trạng căng thẳng về nước theo mùa với sự bất cân đối giữa cung, cầu và có xu hướng gia tăng làm cho công tác điều phối, phân bổ nguồn nước rất khó khăn. Đáng chú ý, ở khu vực miền núi thường xuyên không có nguồn nước dự trữ, nhất là nguồn nước ngầm.  

Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, 65% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chất lượng theo quy chuẩn với số lượng tối thiểu 60 lít/người/ngày; 100% hộ gia đình nông thôn, trường học, trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn; 100% người dân nông thôn thường xuyên thực hiện vệ sinh cá nhân vào năm 2030. Đây là chiến lược quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số, thế nhưng để thực hiện được vẫn còn là một chặng đường nhiều gian nan khi mà đồng bào vùng cao ở dọc dãy Trường Sơn vẫn đang từng ngày chật vật tìm nước.   

Bài liên quan
  • Nguyên Bình (Cao Bằng): Nâng cao ý thức BVMT vùng đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Với đặc thù là huyện có đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm tỷ lệ cao, những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) được huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) đặc biệt quan tâm, chú trọng và triển khai nhiều giải pháp, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức, ý thức và thói quen của mỗi người dân trong công tác BVMT, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

(0) Bình luận
Nổi bật
Chính sách đất đai cho đồng bào DTTS - Bài 4: Rà soát quỹ đất nông lâm trường để giao cho đồng bào
(TN&MT) - Thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước, thời gian qua, việc sắp xếp quỹ đất các nông, lâm trường đã có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, các địa phương còn lúng túng do chưa có quy định chi tiết về việc thu hồi quỹ đất do công ty nông, lâm nghiệp bàn giao cho địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 3: Sơn La rà soát đất nông lâm trường để cấp đất cho đồng bào
    (TN&MT) - Là tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh Sơn La có hơn 1,2 triệu dân, 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó, hơn 83% là đồng bào dân tộc thiểu số. Những năm qua, tỉnh Sơn La rất chú trọng thực hiện chính sách về đất đai cho người dân, góp phần thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 2: Cao Bằng tập trung giải quyết khó khăn
    (TN&MT) - Là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, có đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm gần 95% dân số toàn tỉnh, tỉnh Cao Bằng đã chú trọng triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm hỗ trợ cho người dân vùng đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có thêm điều kiện ổn định cuộc sống. Song, việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trong vùng đồng bào các DTTS vẫn còn là một “bài toán khó” đối với tỉnh Cao Bằng.
  • Chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các DTTS - Bài 1: Đưa chính sách đến với đồng bào
    (TN&MT) - Nhiều năm qua, các tỉnh Tây Bắc có chung một thực trạng, các dự án phát triển hạ tầng xây dựng, dự án trồng cây công nghiệp, mục tiêu quy hoạch 3 loại rừng… là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đồng bào các DTTS bị thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất.
  • Nước sạch cho người dân miền núi các tỉnh miền Trung - Bài 3: Công trình nước sạch không phát huy hiệu quả
    (TN&MT)- Thực tế cho thấy, những năm qua, các địa phương Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi…..đã đầu tư, xây dựng hàng trăm công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho bà con miền núi. Tuy nhiên, sau một thời gian đưa vào sử dụng, đến nay nhiều công trình đang xuống cấp, hư hỏng, không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
  • Tây Giang (Quảng Nam): Hiệu quả bảo vệ môi trường với mô hình lò đốt rác
    (TN&MT)- Những năm gần đây, khi đặt chân đến các thôn bản ở nhiều xã, thị trấn tại huyện miền núi Tây Giang nhiều người không khỏi bất ngờ vì đường sá luôn thông thoáng, sạch đẹp. Thành quả lớn này có được là nhờ mô hình lò đốt rác trong các khu dân cư.
  • Nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền Trung - Bài 2: Vùng cao lao đao vì thiếu nước
    (TN&MT)- Nắng nóng, nước ngày càng khan hiếm. Để có nước sinh hoạt, người dân các huyện vùng cao ở miền Trung phải tận dụng từng bình chứa, băng rừng lên tận suối nơi đầu nguồn để lấy nước về dùng hoặc sử dụng nước mưa, thậm chí là nước giếng chưa qua xử lý bị nhiễm phèn, bẩn.
  • Gia Lai: Đưa nước sạch về với buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) – Từ những chương trình, dự án phối hợp với đơn vị, tổ chức quốc tế và trong nước, tỉnh Gia Lai đã đưa nhiều giếng nước, công trình nước sạch về tại các buôn làng người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), giúp bà con được sử dụng nước hợp vệ sinh và dần nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Vùng đồng bào DTTS tích cực bảo vệ môi trường
    (TN&MT) - Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên, môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm thực hiện và có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường (BVMT), nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại các xã vùng sâu, vùng xa.
  • Nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền Trung - Bài 1: Thách thức nước sinh hoạt cho người dân vùng cao
    (TN&MT) - Dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) cộng với sự suy giảm rõ rệt về nguồn nước, hàng loạt các địa phương miền núi ở khu vực Trung bộ thiếu hụt nước sinh hoạt nghiêm trọng. Thiếu nước sạch không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống dân sinh. Đây là thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của vùng miền núi Trung bộ nói riêng, cả nước nói chung.
  • Đắk Nông: Gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí đất cho người đồng bào
    (TN&MT) - Đắk Nông có 40 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó gần 213.000 người là đồng bào DTTS, chiếm 31% dân số toàn tỉnh. Tuy nhiên, với áp lực dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào ngày một nhiều nên việc bố trí đất ở cũng như đất sản xuất cho người dân ở một số huyện như Tuy Đức, Đắk Glong đang gặp rất nhiều khó khăn.
  • Nghệ An: Nỗ lực xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng cao
    (TN&MT) - Do nhiều lý do khác nhau nên vấn đề thu gom, xử lý rác thải rắn sinh hoạt ở các huyện vùng cao của tỉnh Nghệ An trước đây gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các huyện như Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn… đang hết sức nỗ lực để giải quyết bài toán này.
  • Hiệu quả mô hình thu gom rác thải trong chăn nuôi ở vùng cao Bắc Hà
    (TN&MT) - Mô hình “thu gom rác thải trong chăn nuôi” của chi hội phụ nữ thôn Sán Sả Hồ, xã Thải Giàng Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai với 15 chị em hội viên tham gia. Đây là mô hình đầu tiên triển khai trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện vùng cao Bắc Hà nhằm tạo thu nhập và nâng cao vai trò của chị em trong việc bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan thiên nhiên xanh - sạch - đẹp.
  • Nguyên Bình (Cao Bằng): Nâng cao ý thức BVMT vùng đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Với đặc thù là huyện có đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm tỷ lệ cao, những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) được huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) đặc biệt quan tâm, chú trọng và triển khai nhiều giải pháp, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức, ý thức và thói quen của mỗi người dân trong công tác BVMT, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO