Đưa chè Suối Giàng vươn xa

Thanh Ngà | 02/03/2021, 08:36

(TN&MT) - Những năm gần đây, giá trị và diện tích chè Shan tuyết cổ thụ của huyện Văn Chấn (Yên Bái) ngày một nâng lên. Chè Shan tuyết cổ thụ dần khẳng định vị thế, tiếp cận thị trường khó tính.

Sản phẩm đạt chuẩn OCOP 4 sao

Khi những màn sương mù vẫn còn bao phủ khắp núi rừng, những rừng chè Shan tuyết cổ thụ của xã Suối Giàng, Suối Quyền, Sùng Đô, Nậm Mười huyện Văn Chấn vẫn chìm trong giấc ngủ đông thì đồng bào Mông, đồng bào Dao đã tranh thủ phát cỏ, tỉa cành cho mùa vụ mới.

Sản phẩm chè Suối Giàng đạt chuẩn OCOP 4 sao

Niềm vui ngày xuân xen lẫn niềm tự hào khi tên tuổi, giá trị của cây chè Shan tuyết đã vươn xa, chinh phục các thị trường chè khó tính trên thế giới. Nhờ đó, thu nhập từ chè Shan đã mang lại đời sống ngày càng khấm khá cho nhân dân.

Với đồng bào Mông, xã Suối Giàng phấn khởi hơn khi các các sản phẩm chè của xã nhà đã đạt chuẩn OCOP 4 sao. Hơn nữa, trong xã có hợp tác xã liên kết cùng sản xuất, người dân được bao tiêu sản phẩm với giá trung bình 20.000 đồng/kg chè búp tươi. 

Giá trị cây chè được nâng lên giúp người dân cải thiện đời sống

Đặc biệt, từ khi chè Suối Giàng được chứng nhận nhãn hiệu sản phẩm Tuyết Sơn Trà, đến quần thể 400 cây chè Shan tuyết được công nhận cây di sản Việt Nam và nay là chứng nhận nguồn gốc hữu cơ quốc tế, chứng nhận OCOP 4 sao, người dân nơi đây đã thay đổi nhận thức trong trồng, chăm sóc và thu hái. Từ chỗ bỏ hoang, nay đồng bào Mông đã biết bảo vệ, biết trồng, chăm sóc theo hướng hữu cơ và đặc biệt là thu hái đúng quy trình, kỹ thuật

Anh Vàng A Lồng - Thôn Pang Cáng, xã Suối Giàng, Văn Chấn chia sẻ: Cây chè Suối Giàng có từ xa xưa, được mọc tự nhiên không cần chăm sóc vẫn cho búp. Thế nhưng, những năm gần đây cây chè được HTX tại địa phương thu mua với giá ổn định, được cán bộ xã dạy cách chăm sóc để cây phát triển tốt hơn, thu nhập của người dân khá hơn rất nhiều. Nhờ vậy mà đời sống của người dân ngày được nâng lên.

Đưa cây chè vươn xa

Với trên 1.500ha chè Shan tuyết, hàng năm sản lượng đạt trên 3.500 tấn, cây chè Shan tuyết ở Văn Chấn không chỉ là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số mà còn làm nên tên tuổi thu hút khách du lịch đến với vùng cao.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước giá trị cây chè Shan tuyết ngày càng tăng, diện tích chè Shan tuyết cũng được mở rộng. Đặc biệt, đồng bào vùng cao đã hợp tác để sản xuất ra nhiều sản phẩm chè đặc sản, có chất lượng, giá trị ngày càng cao. Từ Tuyết Sơn Trà đến Đại Lão Vương Trà đã lần lượt tiếp cận được những thị trường chè khó tính của thế giới.

Từ cây chè cổ thụ HTX đã là được 4 loại trà khác nhau, có hương vị khác nhau

Anh Đặng Thái Sơn – Nghệ nhân trà HTX du lich sinh thái Suối Giàng cho biết: Hợp tác xã du lịch sinh thái Suối Giàng đã tiên phong trong việc thay đổi tư duy làm trà. Cùng một cây chè cổ thụ HTX đã là được 4 loại trà phục vụ sở thích của từng người, người thích uống đậm, người thích uống vị thanh mát. Khi du khách tới đây được thưởng thức vị trà đều rất thích. Hiện nay, chè Suối Giàng không chỉ phục vụ cho người dân địa phương, ở Yên Bái mà rất nhiều địa phương khác đã và đang sử dụng chè Suối Giàng.

Ngoài Suối Giàng, một số xã trong huyện cũng có chè Shan tuyết, tuy không nổi tiếng như trà Shan tuyết cổ thụ Suối Giàng nhưng các sản phẩm búp tươi chè Shan vùng cao ở Văn Chấn đều đã có giá bình quân trên 10.000 đồng/kg. Giá trị này còn thấp so với giá trị vốn có của nó, nhưng điều quan trọng là sản phẩm chè Shan vùng cao đã và đang được thị trường rất ưa chuộng.

Trà Suối Giàng đã có tên tuổi trong và ngoài nước

Từ chỗ khó tiêu thụ khi vào chính vụ thì nay tư thương, doanh nghiệp vào tận làng, tận bản lập xưởng chế biến tại chỗ. Giá trị sản phẩm chè Shan vì thế mà tăng lên từng ngày, giúp đời sống đông bào Dao, đồng bào Mông thêm khới sắc. Những cây chè ở Sùng Đô, Suối Quyền, Suối Bu, Nậm Mười, quanh năm, bốn mùa mây phủ giờ đã được bạn bè năm châu biết đến.

Với quy trình sản xuất hữu cơ tự nhiên, cây chè Shan vùng cao không mất chi phí vật tư và công sức bón phân, phun thuốc, nhưng việc thu hái đòi hỏi nhiều công sức hơn. Với giá bình quân 10.000 – 12.000 đồng/kg, mỗi công thu hái cũng đạt từ 250 – 300 ngàn đồng. Đó là thu nhập khá lớn đối với đồng bào các dân tộc vùng cao. Với việc áp dụng nhưng quy trình trồng, chăm sóc mới cây chè Shan tuyết sẽ ngày càng cho giá trị và thu nhập cao hơn.

Ông Mùa A Giàng - Phó Chủ tịch UBND xã Suối Giàng, Văn Chấn cho biết: Đến nay chúng tôi đang vận động người dân bảo tồn nguồn nguyên liệu chè Suối Giàng, hướng dẫn người dân cách chăm sóc, trồng thêm, trồng dặm để tăng thêm diện tích.

Trân trọng món quà mà thiên nhiên ban tặng, đồng bào Dao, đồng bào Mông ở Văn Chấn đã thay đổi tư duy trong sản xuất, không ngừng nỗ lực để mở rộng diện tích nâng cao giá trị cho cây chè Shan tuyết cổ thụ trên những dẻo cao.

Cùng với những chính sách của nhà nước, sự quan tâm của chính quyền các cấp đã đưa sản phẩm chè Shan tuyết cổ thụ của Văn Chấn vượt ra khỏi những thung sâu, núi cao để đến với khách hàng trong và ngoài nước, góp phần mang đến mùa xuân ấm no, đủ đầy cho người dân nơi đây.

Bài liên quan
  • Lên Suối Giàng thưởng trà Shan tuyết
    (TN&MT) – Huyện Văn Chấn (Yên Bái) là nơi diễn ra Lễ hội tôn vinh cây chè tổ và khai trương không gian văn hóa trà Suối Giàng tại xã Suối Giàng. Đây là hoạt động nằm trong khuân khổ các hoạt động của Tuần Văn hóa - Du lịch Mường Lò và Lễ hội khám phá danh thắng Quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải năm 2019.

(0) Bình luận
Nổi bật
Tây Sơn (Bình Định): Xây công trình vệ sinh cho đồng bào Bana Vĩnh An
Để hỗ trợ giúp đỡ cho xã Vĩnh An thực hiện tiêu chí 17 về môi trường trong xây dựng nông thôn mới năm 2022, Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Tây Sơn đã phát động đợt thi đua cao điểm tuyên truyền, vận động và tiếp nhận kinh phí xây dựng công trình vệ sinh cho các hộ đồng bào dân tộc Bana, xã Vĩnh An.
Đừng bỏ lỡ
  • Nông dân Đắk Lắk thay đổi tư duy để phát triển kinh tế
    (TN&MT) - Trong những năm qua, biến đổi khí hậu đã tác động rất lớn đến quá trình canh tác của người nông dân. Trước thực trạng đó, nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ứng dụng khoa học công nghệ để thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm mục đích tăng giá trị kinh tế giúp người dân ổn định đời sống
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Phát huy lợi thế nguồn lực đất đai phục vụ giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) -Thời gian qua, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã triển khai nhiều chính sách, kế hoạch theo đề án giảm nghèo của Nhà nước nhằm cải thiện đời sống, giảm thiểu số hộ nghèo trong toàn tỉnh. Trong đó, Bà Rịa - Vũng Tàu cũng giao cho các sở, ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Thanh Hóa: Nâng cao hiệu quả quản lý khai thác khoáng sản
    Thời gian qua, tỉnh Thanh Hóa đã tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản chặt chẽ và hiệu quả, thường xuyên kiểm tra công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về khoáng sản nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước hồ thủy điện Ialy tạo sinh kế cho người dân
    (TN&MT) - Trải dài trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum, hồ thủy điện Ialy không những phục vụ hiệu quả cho hoạt động khai thác thủy điện của Nhà máy thủy điện Ialy mà còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển du lịch.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp người dân Sơn La thoát nghèo
    (TN&MT) - Phát huy lợi thế hơn 23.000 ha mặt nước diện tích lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình, những năm qua, tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều giải pháp khai thác, sử dụng mặt nước lòng hồ để nuôi trồng thủy sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Thách thức trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Tây Nguyên
    (TN&MT) - Tây Nguyên có tổng diện tích đất nông nghiệp trên 5 triệu hecta, chiếm 91,75% diện tích đất tự nhiên, trong đó có 1,3 triệu hecta đất đỏ bazan. So với 7 vùng sinh thái của nông nghiệp Việt Nam, Tây Nguyên có lợi thế cạnh tranh với quỹ đất bazan tập trung, điều kiện sinh thái và lượng mưa lớn, bình quân diện tích sản xuất hộ gia đình rộng hơn so với các nơi khác.
  • Để đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo
    (TN&MT) - Tỉnh Đắk Nông đã cùng phối hợp mở một số lớp dạy nghề phù hợp với đời sống và tập tục truyền thống của người đồng bào nơi vùng đất đầy nắng và gió như Tây Nguyên.
  • Bảo Thắng - Lào Cai: Bảo vệ tài nguyên khoáng sản để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên môi trường, quản lý và bảo vệ chặt khoáng sản chưa khai thác, nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đó là cách mà huyện Bảo Thắng đang làm trong việc bảo vệ khoáng sản để phát triển bền vững và giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  •  “Đổi đời” từ rừng xanh
    (TN&MT) - Nhiều năm qua, việc phát triển trồng rừng gỗ lớn đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế (FSC) đã giúp người dân tại Thừa Thiên – Huế thoát nghèo và vươn lên làm giàu, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH).
  • Kon Tum: Người dân thoát nghèo nhờ quản lý, bảo vệ rừng
    (TN&MT) - Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) triển khai trên địa bàn tỉnh Kon Tum những năm qua không chỉ nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mà còn là công cụ đắc lực hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO