Phát triển bền vững

Đề xuất chính sách, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số với vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Mai Đan 14:24 16/06/2023

(TN&MT) - Trong những năm qua, các dự án khai thác mỏ triển khai trên khắp cả nước đã có những tác động đến đời sống dân sinh. Bên cạnh những tác động tích cực như giải quyết việc làm, mở đường giao thông, mang đến ánh sáng, cung cấp điện cho bản làng xa xôi…, những dự án này cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với đồng bào, làm xáo trộn cuộc sống của họ và gây ảnh hưởng đến môi trường.

Hoạt động khai khoáng góp phần giảm nghèo nhưng ở mức hạn chế

Những năm gần đây, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm giảm thiểu thấp nhất tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường, tuy nhiên hoạt động này vẫn có những tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước do nước bị ô nhiễm...

Từ đó, có thể phá vỡ điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm như khai thác đá vôi xi măng ở Hà Nam, Ninh Bình..., khai thác vàng với qui mô nhỏ, thủ công diễn ra ở nhiều nơi nhưng điển hình ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Lai Châu, Lào Cai..., khai thác vật liệu xây dựng, khai thác cát ở lòng sông diễn ra phức tạp khắp cả nước gây sạt lở bờ sông, làm sập nhà dân. Những hoạt động đó trực tiếp và gián tiếp gây ra sụt lún đất ở và canh tác của người dân ở Nghệ An, Bắc Cạn, Lào Cai.

Trong quá trình khai thác một lượng lớn đất thải, nước thải từ hồ chứa tạo ra những nguy cơ như vỡ đập tràn, sạt lở đất thải gây lấp rừng, đất canh tác và đe dọa cuộc sống của người dân như khai thác than, khai thác đồng, sắt ở Quảng Ninh, Lào Cai, Yên Bái; hoặc quá trình vận chuyển quặng, đất thải bởi những xe tải lớn làm cho cơ sở hạ tầng của địa phương bị hỏng nhiều so với giá trị được đóng góp từ khai thác. Những nguyên nhân đó một phần gây cản trở công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương, vì đại đa số người dân sinh sống gần mỏ đều có điều kiện kinh tế khó khăn.

z4276986360724_558018f4bb0a830670004896212e5f61.jpg
Hoạt động khai khoáng góp phần giảm nghèo nhưng ở mức hạn chế

So với các nước và khu vực có nền công nghiệp khai khoáng hiện đại như Australia, Châu Âu..., tại Việt Nam, ngoài những cam kết về môi trường, đề án an sinh xã hội với cộng đồng người dân sống xung quanh mỏ rất được quan tâm, đặc biệt như tạo công việc làm, nâng cao đời sống văn hóa cho người dân thông qua các hành động cụ thể hàng năm

Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tại các địa phương đã mang lại việc làm và thu nhập khá ổn định cho hàng chục nghìn người lao động trực tiếp và gián tiếp. Bên cạnh đó, việc thu hồi và đền bù đất trong các dự án khai thác khoáng sản chắc chắn phải thực hiện theo điều khoản quy định trong Luật Đất đai và việc thực hiện cam kết của doanh nghiệp với chính quyền địa phương là điều kiện rất quan trọng để người dân có quyền sử dụng đất, nơi có khoáng sản thấy bằng lòng khi bàn giao và cũng đảm bảo cho cuộc sống của họ về lâu dài. Tuy vậy, theo báo cáo của 63 tỉnh/thành phố trong giai đoạn 2012 - 2020, các tổ chức hoạt động khoáng sản mới hỗ trợ cho người dân số tiền hơn 126 tỷ đồng, đây là con số rất nhỏ và khiêm tốn.

Đề xuất chính sách bảo vệ quyền lợi của đồng bào

Theo PGS.TS. Doãn Hồng Nhung, Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, không chỉ hỗ trợ kinh phí cho người dân, nơi có khoáng sản được khai thác ở mức hạn chế, các dự án khai thác khoáng sản còn tác động lớn đến môi trường và sức khỏe của bà con. Bà cho hay, tiếng ồn của máy móc, xe ô tô vận chuyển, tiếng khai mìn nổ… kéo theo khói bụi, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí, gây nứt, gãy, hỏng hạ tầng, đường giao thông, nhà ở, làm sạt lở đất, đồi núi. “Đáng lo ngại, khói bụi có thể bám vào những lá phổi của người công nhân lao động và người dân sống và làm việc trong các mỏ đá, mỏ quặng”, PGS.TS. Doãn Hồng Nhung nhấn mạnh.

Để giải quyết những tác động này, PGS.TS. Doãn Hồng Nhung cho rằng cần tăng cường vai trò của cảnh sát môi trường, bảo vệ các thành tố của môi trường sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, cần quan tâm đến vấn đề tính đúng, tính đủ tổn thất về vật chất, tinh thần, sức khỏe, thiệt hại do bị ngừng sản xuất để bồi thường, hỗ trợ cho đồng bào và nhân dân sinh sống trong vùng chịu ảnh hưởng của tác động môi trường trong quá trình khai thác mỏ; cũng như quan tâm đến khoanh nuôi rừng, bảo vệ lõi rừng.

Hơn nữa, các cơ quan chức năng cần xử lý những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, trong quá trình triển khai dự án khai mỏ; các đơn vị khai thác mỏ cần quan tâm đến vấn đề hoàn thổ, trồng cây gây rừng, tái tạo và bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ tài nguyên nguồn nước, bảo vệ sự sống của động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học.

PGS.TS. Doãn Hồng Nhung cũng đề xuất tham vấn cộng đồng từ 3-5 năm/lần để có thể kịp thời điều chỉnh kế hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản; thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đánh giá môi trường chiến lược phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Bà cũng cho rằng việc xây dựng và hoàn thiện Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Địa chất và Khoáng sản, Luật Lâm nghiệp năm 2017 phải bảo đảm không gian bảo tồn văn hóa, di sản thiên nhiên, bảo vệ di sản tâm linh của dân tộc thiểu số…

Theo bà, Ban soạn thảo xây dựng Luật Địa chất và Khoáng sản cần bổ sung nội dung về chi phí xã hội, chi phí ngoại biên trong Điều, khoản liên quan đến quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác… Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số, bảo tồn văn hóa và đảm bảo sinh kế bền vững cho đồng bào.

z4276971717669_c8f723e194e55a36ab585dc38ddeee84.jpg
Dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản chú trọng đến quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác

Bà Doãn Hồng Nhung cũng đề xuất sử dụng công cụ tài chính, áp thuế môi trường, phí môi trường và thực thi pháp luật để bảo vệ quyền của đồng bào dân tộc thiểu số, gắn việc khai thác khoáng sản, tài nguyên với phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia tạo nền tảng cho phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; triển khai và tổ chức tốt việc thực thi Điều 15 và Điều 16 (quyền lợi địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác) của Nghị định số 158/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản…

Bên cạnh đó, việc quy định triển khai giờ khai thác từ 7 giờ đến 19 giờ trong ngày sẽ giúp cơ quan quản lý có thể phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật trong khai thác khoáng sản.

PGS.TS. Doãn Hồng Nhung cho rằng bảo vệ quyền sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa là bảo vệ quyền cho người sử dụng đất nói chung, thông qua đó việc bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống có ý nghĩa sâu sắc trong tình hình hiện nay. Việc khai thác và sử dụng các lợi ích có được từ đất là tiền đề cần và đủ để bảo vệ chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Khi xây dựng dự thảo luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ quyền của người sử dụng đất thì luật đất đai sẽ gánh vác trọng trách bảo tồn và phát triển quỹ đất đối với mọi vùng miền của Tổ quốc.

Do vậy, các quy phạm pháp luật ban hành cần có các quy định chuyển tiếp các quy phạm pháp luật trước đó và phù hợp với thuần phong mĩ tục, trình độ hiểu biết. Theo bà Doãn Hồng Nhung cần phải triển khai tham vấn cộng đồng để kịp thời điều chỉnh, đánh giá môi trường chiến lược; cần bảo vệ khác khu vực rừng thiêng, rừng ma, không gian sống và không gian bảo tồn văn hóa, bảo tồn di sản thiên nhiên,… Các quy định pháp luật phải có tính lường trước, tính dự đoán, dự báo các tình huống có thể xảy ra để có thể tăng giá trị gia tăng xã hội, tăng giá trị sinh thái và môi trường hướng tới phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.

Bài liên quan
  • Người có uy tín – Nhịp cầu chính sách đến với đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Thân mật, nhẹ nhàng, trách nhiệm – Đó là cách mà các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Sơn La vận động đồng bào các dân tộc nghe theo Đảng, Bác Hồ, không nghe, không tin kẻ xấu, không di cư tự do, không vượt biên trái phép, không phá rừng làm nương, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường…

(0) Bình luận
Nổi bật
Trượt lở đất đá: Hiểu để ứng phó kịp thời
(TN&MT) - Những năm gần đây, trượt lở đất đá là một trong số các dạng tai biến địa chất xảy ra với tần suất khá cao, mức độ trầm trọng và trên diện ngày càng rộng, gây nên nhiều thiệt hại về người và cơ sở vật chất cho cộng đồng. Chính vì vậy, người dân cũng như các cấp chính quyền cần có hiểu biết đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân, cũng như cơ chế và quá trình hình thành các loại trượt lở đất đá cùng với các dấu hiệu nhận biết và cách phòng tránh.
Đừng bỏ lỡ
  • Sắc xanh xứ đạo xã Phú Sơn
    Bà con giáo xứ tại xã Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn (Thanh Hóa) luôn nêu cao phương châm sống “tốt đời đẹp đạo”, tự giác nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm.
  • Theo chân cán bộ kiểm lâm “cắm bản”
    (TN&MT) - Dọc theo những con đường đến với xã vùng biên Phiêng Pằn của huyện Mai Sơn (Sơn La), trên những quả đồi bạc màu, hoang hóa ngày nào, đang xanh lên màu xanh của những cánh rừng. Trong thành công ấy, có bóng dáng, sự nỗ lực quên mình của người kiểm lâm viên địa bàn ngày ngày “bám đất, bám rừng”.
  • Cây dược liệu- Cây xóa nghèo bền vững ở các huyện miền Núi
    Cùng với chính sách xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ, trong những năm gần đây, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra nhiều chương trình xóa đói, giảm nghèo cho bà con các huyện miền Núi. Trong những chương trình đó thì phát triển nguồn lực tại chỗ là một trong những thế mạnh của người dân như: Phát triển và bảo vệ rừng, trồng cây lâm nghiệp, nông nghiệp, trồng dược liệu… Nhờ đó, người dân vùng sâu, vùng xa Xứ Thanh đã thoát nghèo bền vững.
  • Lễ cầu mưa của dân tộc Hà Nhì
    (TN&MT) - Hàng năm từ 15/5 - 15/7 (âm lịch) người Hà Nhì ở Mường Nhé (Điện Biên) lại chuẩn bị cho Tết mùa mưa (Dế khù chà – theo tiếng Hà Nhì). Đây là dịp để người Hà Nhì cầu mong cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa tốt tươi, con cháu họ được sum vầy hạnh phúc. Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng tâm linh thì đó còn là thời điểm họ cảm tạ thần mưa đã dâng nước suối đủ tưới mát cây cối, ruộng đồng, không làm lũ ống, lũ quét... Cảm tạ đất trời đã che chở họ trong cả một năm qua.
  • Người Mạ giữ rừng vì giá trị truyền thống
    (TN&MT) - Nghề giữ rừng tại Vườn Quốc gia Tà Đùng (xã Đắk Som, huyện Đắk G’long) đã mang lại nguồn thu nhập cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số người Mạ từ khoản kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng. Với đại đa số các hộ dân tại đây, giữ rừng không chỉ mang lại thu nhập mà còn là trách nhiệm với tổ tiên và các thế hệ mai sau bởi nghề rừng được xem như một nghề truyền thống.
  • Đồng bào Cơ Tu giữ rừng
    (TN&MT) - Ngàn đời nay, đồng bào Cơ Tu ở huyện Tây Giang (Quảng Nam) xem rừng như người Mẹ vĩ đại che chở mang lại sự sống cho dân làng. Chính từ sự ngưỡng vọng, tôn vinh, trân trọng ấy nên người dân Tây Giang luôn yêu quý, bảo vệ rừng.
  • Chính sách cấp nước sạch cho bà con dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Hiện nay, nhiều thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, điều kiện cơ sở hạ tầng còn rất khó khăn và thiếu thốn, đặc biệt là thiếu nguồn nước sạch cho sinh hoạt của người dân. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 đã đưa vấn đề hỗ trợ nước sinh hoạt bao gồm hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung là một trong những trọng điểm.
  • Kinh nghiệm giữ rừng của người Tày Lạng Sơn
    Thôn Đông Đằng, xã Bắc Quỳnh (Bắc Sơn, Lạng Sơn) nằm cạnh một rừng nghiến cổ thụ xanh mướt. Bao đời nay, bằng tấm lòng yêu rừng, giữ rừng của người dân nơi đây, hàng trăm gốc nghiến quý giá vẫn giữ nguyên vẹn, sừng sững như minh chứng sống cho những thăng trầm, đổi thay trên vùng đất cách mạng Bắc Sơn.
  • Đề xuất chính sách, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số với vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam
    (TN&MT) - Trong những năm qua, các dự án khai thác mỏ triển khai trên khắp cả nước đã có những tác động đến đời sống dân sinh. Bên cạnh những tác động tích cực như giải quyết việc làm, mở đường giao thông, mang đến ánh sáng, cung cấp điện cho bản làng xa xôi…, những dự án này cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với đồng bào, làm xáo trộn cuộc sống của họ và gây ảnh hưởng đến môi trường.
  • Đắk Nông: Nỗ lực đưa nước sạch về với đồng bào vùng cao
    Trong những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc cấp nước sạch còn nhiều hạn chế, nhưng với sự quyết tâm của chính quyền địa phương nên rất nhiều buôn làng vùng sâu, vùng xa thuộc một số địa phương của tỉnh Đắk Nông đã có nước sạch về đến các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Hà Giang: Nỗ lực đưa nước sạch về cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
    (TN&MT) - Giải quyết nước sinh hoạt cho vùng miền núi nói chung, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là vấn đề mà Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong suốt thời gian qua. Trong nỗ lực “xóa khát” đó, có dấu ấn rất lớn của ngành TN&MT thông qua việc thực hiện thành công nhiều dự án tìm kiếm nguồn nước ở trên núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giải “cơn khát” nhiều đời cho đồng bào nơi đây.
  • Mường Tè (Lai Châu): Giải pháp đưa nước sạch về với đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Mường Tè là một trong những huyện vùng cao có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống ở Lai Châu. Trước đây, người dân luôn phải sống trong cảnh thiếu nước sinh hoạt. Từ khi có các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 30a, 135, nông thôn mới… của Nhà nước, đồng bào DTTS đã có nước sạch, hợp vệ sinh sử dụng trong sinh hoạt mỗi ngày. An ninh nguồn nước được đảm bảo.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO