Công nghệ viễn thám - Công cụ hữu ích trong điều tra trượt lở đất đá ở miền núi

Nguyễn Thủy | 25/09/2021, 10:21

(TN&MT) - Công nghệ viễn thám được xem là một trong những phương pháp có hiệu quả cao trong lĩnh vực nghiên cứu tai biến địa chất, bảo vệ môi trường đã được các nhà khoa học Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản ứng dụng trong điều tra, phân vùng, cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá.

Công nghệ viễn thám giúp nhận dạng các khối trượt lở đất đá

Trượt lở đất đá là một trong những loại hình thiên tai phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam. Ba phần tư lãnh thổ Việt Nam thuộc khu vực  miền núi, có địa hình sườn dốc cao, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội chưa được qui hoạch hợp lý, nên các hiện tượng trượt lở đất đá, lũ bùn đá và lũ quét thường xảy ra. Những năm gần đây, các loại hình thiên tai này xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng tăng, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, điển hình ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Thanh Hóa, Nghệ An...

Trên thế giới, việc nghiên cứu tai biến địa chất được đầu tư rất sớm, nhiều phương pháp khoa học tiên tiến đã được áp dụng vào công tác dự báo nguy cơ thảm họa trượt lở đất đá. Trong đó, phân tích ảnh viễn thám kết hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) đang được xem là một trong những hệ phương pháp có hiệu quả cao trong lĩnh vực nghiên cứu tai biến địa chất, bảo vệ môi trường.

Trượt lở đất đá luôn de dọa cuộc sống của người dân miền núi

Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ được chú trọng khoảng 15 năm gần đây khi thảm họa thiên tai xảy ra thường xuyên hơn. Các nghiên cứu về trượt lở đất đá ở Việt Nam mới chỉ áp dụng trên diện rộng, tỷ lệ nhỏ, chủ yếu phân vùng dự báo định tính, còn rất thiếu các công trình điều tra đủ chi tiết để hỗ trợ hiệu quả hơn công tác quy hoạch, cảnh báo nguy cơ và chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Mới đây, các nhà khoa học của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản đã ứng dụng thành công việc phân tích ảnh viễn thám trong đánh giá hiện trạng trượt lở đất đá ở vùng miền núi.

TS. Nguyễn Quốc Khánh – Giám đốc Trung tâm Viễn thám và Tai biến địa chất, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho biết: Phân tích ảnh viễn thám cho phép nhận dạng các khối trượt và các yếu tố chính phát sinh trượt lở đất đá. Đó là các yếu tố cấu trúc địa chất, đới phá hủy kiến tạo, thảm phủ thực vật và những biến động của lớp thảm phủ thực vật…

Các thông tin được chiết xuất từ ảnh viễn thám chủ yếu thông qua các dấu hiệu ảnh: dấu hiệu trực tiếp như tôn ảnh, màu sắc ảnh, hoa văn ảnh, kiến trúc ảnh, hình dạng đối tượng ảnh... và gián tiếp như những yếu tố lớp phủ, địa hình, địa mạo, thành phần vật chất trên bề mặt địa hình....

Trên cơ sở đó, các nhà khoa học thành lập được các sơ đồ giải đoán các khối trượt và các yếu tố thành phần. Các sơ đồ kết quả giải đoán các khối trượt và các yếu tố thành phần sẽ được sử dụng làm các dữ liệu đầu vào rất quan trọng cho công tác đánh giá, phân vùng dự báo và thành lập bản đồ phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá trong các bước tiếp theo.

Giải đoán ảnh viễn thám có độ chính xác trên 80%

Theo các nhà khoa học của Cục Viễn thám quốc gia, tại những vùng điều tra có thể sử dụng được nhiều tư liệu ảnh viễn thám đa thời kỳ có độ phân giải cao, công tác kiểm chứng thực địa các khối trượt giải đoán từ ảnh viễn thám đã xác định được tại những vị trí này đã xảy ra trượt lở đất đá với độ chính xác trên 80%.

Cụm điểm trượt lở đất đá xảy ra trên các sườn núi gần bản Pọng Ngoài, xã Tam Chung, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa được xác định từ giải đoán ảnh viễn thám.

Tuy nhiên, công nghệ viễn thám vẫn có thể có sai số so với thực địa, bởi sự chênh lệch giữa thời gian thu nhận ảnh và thời gian kiểm chứng thực địa. Ngoài ra, còn do có nhiều điểm trượt xảy ra khá lâu, được xác định trên ảnh viễn thám, nhưng tại thời điểm khảo sát thực địa thì khối trượt đã ổn định hoặc dừng hoạt động, nên đã được phủ kín bởi các loại thảm phủ hoặc bị xóa mờ dấu vết bởi các hoạt động nhân sinh. Vì vậy, để nâng tính chính xác trong đánh giá trượt lở đất đai, ngoài việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như ảnh viễn thám, các nhà khoa học cho rằng, cần kiểm tra, đối sánh với các tài liệu khác hiện có và kiểm chứng thực địa.

“Để các kết quả phân tích, giải đoán ảnh viễn thám đạt độ chính xác cao, công tác kiểm tra, đối sánh với các tài liệu khác hiện có và kiểm chứng thực địa cũng đóng vai trò quan trọng. Việc kiểm chứng thực địa chủ yếu được tiến hành tại những ô chìa khóa, bởi phần lớn địa hình khu vực miền núi có nguy cơ trượt lở đất đá có độ phân cắt phức tạp, không có đường để tiếp cận, hoặc không thể quan sát rõ do rừng rậm hoặc sương mù che khuất” – Ông Lê Quốc Hưng, Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia cho biết.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Xây dựng khối đoàn kết, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi
(TN&MT) - Ủy ban Dân tộc vừa ra Thông báo Kết luận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác dân tộc năm 2022, sơ kết 01 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030, giai đoạn I từ năm 2021- 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2023.
Đừng bỏ lỡ
  • Lễ Tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS xuất sắc, tiêu biểu năm 2022
    (TN&MT) - Tối ngày 10/12, Lễ Tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số (DTTS) xuất sắc, tiêu biểu năm 2022 do Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức trọng thể tại Nhà hát Âu Cơ, Hà Nội.
  • Ngày 10/12 sẽ diễn ra Lễ Tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS xuất sắc, tiêu biểu năm 2022
    (TN&MT) - Ngày 28/11, tại Hà Nội, đã diễn ra Chương trình Họp báo Lễ tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số (DTTS) xuất sắc, tiêu biểu năm 2022 do Ủy ban Dân tộc tổ chức . Theo đó, ngày 10/12 tới, tại Hà Nội sẽ diễn ra Lễ Tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS xuất sắc, tiêu biểu năm 2022
  • Bình Thuận: Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) -Thời gian qua, thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo bền vững, tỉnh Bình Thuận không những tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo tham gia vay và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để phát triển kinh tế, mà còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm kịp thời ứng phó với tình hình hạn hán, giải quyết nhu cầu về nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho người dân địa phương.
  • Mở rộng đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp người dân tăng thêm thu nhập
    (TN&MT) - Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trong rừng ngập mặn là một trong những hoạt động đang được ngành nông nghiệp định hướng sẽ chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Bước đầu, việc xây dựng thí điểm mô hình về chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với rừng ngập mặn tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã cho thấy hiệu quả tích cực.
  • Nông dân Đắk Lắk thay đổi tư duy để phát triển kinh tế
    (TN&MT) - Trong những năm qua, biến đổi khí hậu đã tác động rất lớn đến quá trình canh tác của người nông dân. Trước thực trạng đó, nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ứng dụng khoa học công nghệ để thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm mục đích tăng giá trị kinh tế giúp người dân ổn định đời sống
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Phát huy lợi thế nguồn lực đất đai phục vụ giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) -Thời gian qua, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã triển khai nhiều chính sách, kế hoạch theo đề án giảm nghèo của Nhà nước nhằm cải thiện đời sống, giảm thiểu số hộ nghèo trong toàn tỉnh. Trong đó, Bà Rịa - Vũng Tàu cũng giao cho các sở, ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Thanh Hóa: Nâng cao hiệu quả quản lý khai thác khoáng sản
    Thời gian qua, tỉnh Thanh Hóa đã tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản chặt chẽ và hiệu quả, thường xuyên kiểm tra công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về khoáng sản nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước hồ thủy điện Ialy tạo sinh kế cho người dân
    (TN&MT) - Trải dài trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum, hồ thủy điện Ialy không những phục vụ hiệu quả cho hoạt động khai thác thủy điện của Nhà máy thủy điện Ialy mà còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển du lịch.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp người dân Sơn La thoát nghèo
    (TN&MT) - Phát huy lợi thế hơn 23.000 ha mặt nước diện tích lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình, những năm qua, tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều giải pháp khai thác, sử dụng mặt nước lòng hồ để nuôi trồng thủy sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Thách thức trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Tây Nguyên
    (TN&MT) - Tây Nguyên có tổng diện tích đất nông nghiệp trên 5 triệu hecta, chiếm 91,75% diện tích đất tự nhiên, trong đó có 1,3 triệu hecta đất đỏ bazan. So với 7 vùng sinh thái của nông nghiệp Việt Nam, Tây Nguyên có lợi thế cạnh tranh với quỹ đất bazan tập trung, điều kiện sinh thái và lượng mưa lớn, bình quân diện tích sản xuất hộ gia đình rộng hơn so với các nơi khác.
  • Để đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo
    (TN&MT) - Tỉnh Đắk Nông đã cùng phối hợp mở một số lớp dạy nghề phù hợp với đời sống và tập tục truyền thống của người đồng bào nơi vùng đất đầy nắng và gió như Tây Nguyên.
  • Bảo Thắng - Lào Cai: Bảo vệ tài nguyên khoáng sản để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên môi trường, quản lý và bảo vệ chặt khoáng sản chưa khai thác, nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đó là cách mà huyện Bảo Thắng đang làm trong việc bảo vệ khoáng sản để phát triển bền vững và giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO