Chính sách đất ở, đất sản xuất vùng đồng bào DTTS Tây Bắc – Bài 5: Cần giải pháp đồng bộ

Hoàng Châu | 21/05/2022, 18:39

(TN&MT) - Hiện nay, tại các tỉnh Tây Bắc có chung một thực trạng, các dự án phát triển hạ tầng xây dựng, dự án phát triển cây công nghiệp, cây đa mục đích, mục tiêu quy hoạch 3 loại rừng… là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến diện tích đất canh tác nông nghiệp của đồng bào DTTS bị thu hẹp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đất sản xuất của người dân.

Nguyên nhân thiếu đất sản xuất vùng đồng bào DTTS

Theo báo cáo của các địa phương, PV Báo tài nguyên và Môi trường tổng hợp tại 5 địa phương, gồm Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái. Đến cuối năm 2021, có 98% đường xã và đường từ trung tâm xã đến trung tâm huyện được bê tông hóa; 99,3% hộ gia đình sử dụng điện; 98,6% thôn, bản có điện; trên 89% hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Việc thực hiện các chính sách đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng toàn diện, có hiệu quả, đã từng bước thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, mang lại thu nhập ổn định cho người dân. Tỷ lệ hộ nghèo của các tỉnh giảm từ 23,03% năm 2019 xuống còn 10,12% đến cuối năm 2020; trong đó tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số giảm từ 41,39% năm 2019 xuống còn 24,93% cuối năm 2020.

Vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt của người đồng bào dân tộc thiểu số được các tỉnh quan tâm. Mặc dù vậy thì tình trạng bà con thiếu đất canh tác vẫn đang là một thực trạng ở nhiều địa phương của các tỉnh Tây Bắc.

anh-1.jpg
Cánh đồng Mường Thanh vào vụ

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu đất canh tác của người dân vùng đồng bào DTTS do địa hình đồi núi dốc, dân cư sống không tập trung, địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu nằm ở vùng sâu, vùng xa, núi cao nên nhu cầu về đất ở, đất sản xuất là rất lớn. Diện tích đất sản xuất của tỉnh phân bố không đều giữa các xã và huyện, diện tích đất nông nghiệp. Theo định mức đất ở, đất sản xuất ở tại các địa phương dành cho vùng đồng bào DTTS mỗi hộ có khoảng 400m2 đất ở và 2ha diện tích đất nương rãy canh tác.

Tuy nhiên, do đất trồng bị hoang hóa, sói mòn rửa trôi lớp đất màu mỡ.. khiến cho diện tích đất canh tác của bà con không đem lại hiệu quả kinh tế cao cho cây trồng, dẫn đến việc người dân ở một số huyện miền núi khó thoát nghèo. Cũng có một nguyên nhân khách quan khác, do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý chủ yếu là đồi, núi cao, diện tích đồi, núi đá chiếm 80%, thường xuyên xảy ra lũ lụt, sạt lở đất làm xói mòn dần đất của đồng bào theo từng năm; việc đô thị hoá và xây dựng các công trình thủy điện, các khu, cụm công nghiệp làm mất đi một phần đáng kể đất sản xuất và đất ở... Còn có nguyên nhân chủ quan do nhu cầu đất ở, đất sản xuất của đồng bào là rất lớn trong khi quỹ đất của địa phương có hạn nên việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào còn hạn chế. Hơn nữa, tình trạng tách hộ ở riêng ngày một nhiều, cùng đó là công tác đào tạo nghề chưa gắn giải quyết việc làm, tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo chiếm gần 80% dân số, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giải pháp đồng bộ

Theo ông Nguyễn Đăng Nam, Phó Giám đốc Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên thì để triển khai hiệu quả các chính sách về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài việc Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và đào tạo nghề, chuyển nghề, giải quyết việc làm đối với hộ DTTS nghèo trong giai đoạn 2020- 2030. Bảo đảm cân đối các nguồn lực (chủ yếu là ngân sách T.Ư), chỉ đạo các địa phương lồng ghép các nguồn vốn để tập trung giải quyết dứt điểm các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể đã xác định. Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện ngay việc rà soát, đánh giá toàn bộ các chính sách đang thực hiện trên địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng DTTS. Từ đó nghiên cứu xây dựng một chính sách tổng thể, đồng bộ, rõ cơ chế, định mức phù hợp với đặc điểm vùng miền.

anh-2.jpg
Lai Châu nhiều diện tích đất trồng có nguy cơ hoang hóa, dẫn đến diện tích đất nông nghiệp của người dân không thể đảm bảo an ninh lương thực cho bà con vùng đồng bào DTTS.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về đất đai, nhất là việc giao đất, cho thuê đất, bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện quy hoạch, xây dựng các dự án, công trình có liên quan đến thu hồi đất ở, đất sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn miền núi, biên giới, vùng DTTS. Cần quy định điều kiện ràng buộc đối với các hộ thụ hưởng chính sách (kể cả đất ở và đất sản xuất) phải trực tiếp quản lý, sử dụng đất đúng mục đích, không được chuyển nhượng, mua bán, cho thuê trong thời hạn 10 năm được Nhà nước giao. Tích cực giải quyết việc làm phi nông nghiệp nhằm giảm áp lực nhu cầu đất sản xuất cho đồng bào DTTS.

Riêng với các địa phương, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chính sách pháp luật về đất đai. Khai thác hiệu quả quỹ đất ở, đất sản xuất thông qua công tác xã hội hóa, động viên gia đình, dòng họ, cộng đồng cho, tặng, nhượng lại đất ở, đất sản xuất cho các hộ DTTS nghèo thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất. Tổ chức rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án, xây dựng các công trình trên địa bàn vùng DTTS. Trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi cần làm rõ phương án di dân, tái định cư, giải quyết đất ở, đất sản xuất; phương án tạo công ăn, việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp đối với các hộ bị mất đất. Nếu không bảo đảm được việc ổn định đời sống, nâng cao thu nhập cho các hộ di dân tái định cư đến nơi ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ thì không thực hiện xây dựng các công trình.

Ngoài ra, cần chú trọng đến đầu tư khai hoang, thủy lợi, cải tạo đất để tạo quỹ đất sản xuất mới. Chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để thâm canh, tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi trên cơ sở sử dụng có hiệu quả diện tích đất hiện có trong điều kiện không mở rộng được diện tích đất sản xuất mới.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Bá Thước (Thanh Hóa): Nhiều điển hình sản xuất kinh doanh giỏi
Trong những năm qua, nhờ có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế ở các huyện miền Núi, vùng sâu, vùng xa đã có nhiều khởi sắc. Đặc biệt, chỉ trong 2 năm 2021- 2023, huyện Bá Thước có 5 tập thể và 21 cá nhân được Chủ tịch UBND huyện tặng Giấy khen đạt thành tích xuất sắc trong phong trào nông dân thi đua SXKD giỏi cấp huyện, 30 cá nhân và 4 tập thể được Hội Nông dân khen thưởng.
Đừng bỏ lỡ
  • Bắc Quang – Hà Giang: Đưa nhiều chương trình vì mục tiêu giảm nghèo tới gần người dân
    Hàng loạt chương trình mục tiêu giảm nghèo của Trung ương và tỉnh Hà Giang đang được huyện Bắc Quang tích cực triển khai sâu rộng tới người dân thông qua các kế hoạch, đề án, dự án cụ thể và có kiểm tra, giám sát nghiêm túc, nhờ đó bước đầu đã giải quyết việc làm, tạo sinh kế bền vững cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa của huyện Bắc Quang.
  • Phú Yên: Tìm giải pháp cho những công trình nước sạch vùng nông thôn, vùng đồng bào DTTS
    (TN&MT) - Phú Yên là một trong số những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán. Người dân nhiều địa phương trong tỉnh, đặc biệt là khu vực miền núi thường xuyên thiếu nước sinh hoạt. Tuy nhiên, nghịch lý là hiện nay hàng chục công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung do Nhà nước đầu tư xây dựng đã bị bỏ hoang từ nhiều năm qua.
  • Nuôi dê thương phẩm giúp nhiều hộ dân đổi đời
    Thời gian qua, việc chia sẻ kinh nghiệm nuôi dê thương phẩm và liên kết trong chăn nuôi, bao tiêu sản phẩm đang từng bước đem lại hiệu quả kinh tế lớn, đồng thời mở ra hướng đi mới cho hàng chục hộ dân ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Theo số liệu báo cáo, ước tính tổng đàn Dê thương phẩm của huyện đến hết tháng 6/2023 đạt khoảng 10.000 con.
  • Mường Lát (Thanh Hóa): Cuộc sống mới ở khu tái định cư
    Bản Ón, xã Tam Chung, huyện Mường Lát (Thanh Hóa) có 100% là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Đa số người dân trong bản thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Phần lớn các hộ dân dựng nhà bên những sườn núi cheo leo, nên luôn phải đối mặt với nguy cơ lũ quét, sạt lở rất cao vào mùa mưa lũ. Nhưng giờ đây người dân trong bản không còn phải nơm nớp lo sợ, bởi khu tái định cư do Nhà nước đầu tư khang trang, đồng bào đã và đang bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.
  • Bắc Quang - Hà Giang: Nỗ lực giúp dân xóa nghèo bền vững
    Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 1/11/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về Chương trình cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ để tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, huyện Bắc Quang đã chủ động tuyên truyền, xây dựng kế hoạch và triển khai hiệu quả giúp hàng chục hộ dân xóa nghèo và vươn lên khá giả.
  • Sắc xanh xứ đạo xã Phú Sơn
    Bà con giáo xứ tại xã Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn (Thanh Hóa) luôn nêu cao phương châm sống “tốt đời đẹp đạo”, tự giác nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm.
  • Theo chân cán bộ kiểm lâm “cắm bản”
    (TN&MT) - Dọc theo những con đường đến với xã vùng biên Phiêng Pằn của huyện Mai Sơn (Sơn La), trên những quả đồi bạc màu, hoang hóa ngày nào, đang xanh lên màu xanh của những cánh rừng. Trong thành công ấy, có bóng dáng, sự nỗ lực quên mình của người kiểm lâm viên địa bàn ngày ngày “bám đất, bám rừng”.
  • Cây dược liệu- Cây xóa nghèo bền vững ở các huyện miền Núi
    Cùng với chính sách xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ, trong những năm gần đây, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra nhiều chương trình xóa đói, giảm nghèo cho bà con các huyện miền Núi. Trong những chương trình đó thì phát triển nguồn lực tại chỗ là một trong những thế mạnh của người dân như: Phát triển và bảo vệ rừng, trồng cây lâm nghiệp, nông nghiệp, trồng dược liệu… Nhờ đó, người dân vùng sâu, vùng xa Xứ Thanh đã thoát nghèo bền vững.
  • Lễ cầu mưa của dân tộc Hà Nhì
    (TN&MT) - Hàng năm từ 15/5 - 15/7 (âm lịch) người Hà Nhì ở Mường Nhé (Điện Biên) lại chuẩn bị cho Tết mùa mưa (Dế khù chà – theo tiếng Hà Nhì). Đây là dịp để người Hà Nhì cầu mong cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa tốt tươi, con cháu họ được sum vầy hạnh phúc. Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng tâm linh thì đó còn là thời điểm họ cảm tạ thần mưa đã dâng nước suối đủ tưới mát cây cối, ruộng đồng, không làm lũ ống, lũ quét... Cảm tạ đất trời đã che chở họ trong cả một năm qua.
  • Người Mạ giữ rừng vì giá trị truyền thống
    (TN&MT) - Nghề giữ rừng tại Vườn Quốc gia Tà Đùng (xã Đắk Som, huyện Đắk G’long) đã mang lại nguồn thu nhập cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số người Mạ từ khoản kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng. Với đại đa số các hộ dân tại đây, giữ rừng không chỉ mang lại thu nhập mà còn là trách nhiệm với tổ tiên và các thế hệ mai sau bởi nghề rừng được xem như một nghề truyền thống.
  • Đồng bào Cơ Tu giữ rừng
    (TN&MT) - Ngàn đời nay, đồng bào Cơ Tu ở huyện Tây Giang (Quảng Nam) xem rừng như người Mẹ vĩ đại che chở mang lại sự sống cho dân làng. Chính từ sự ngưỡng vọng, tôn vinh, trân trọng ấy nên người dân Tây Giang luôn yêu quý, bảo vệ rừng.
  • Chính sách cấp nước sạch cho bà con dân tộc thiểu số
    (TN&MT) - Hiện nay, nhiều thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, điều kiện cơ sở hạ tầng còn rất khó khăn và thiếu thốn, đặc biệt là thiếu nguồn nước sạch cho sinh hoạt của người dân. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 đã đưa vấn đề hỗ trợ nước sinh hoạt bao gồm hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung là một trong những trọng điểm.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO