Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đô thị Rạch Giá

Phương Trang | 25/12/2021, 17:05

(TN&MT) - Đề án bảo vệ nước dưới đất đô thị Rạch Giá do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia) thực hiện năm 2021 đã đánh giá được tiềm năng, trữ lượng, chất lượng nước dưới đất, khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước cũng như các nguyên nhân dẫn đến việc suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn nước dưới đất.

Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý khai thác và phát triển nguồn tài nguyên nước dưới đất bền vững, hiệu quả.

Khoan thăm dò lỗ khoan RG1

Các tầng chứa nước cần bảo vệ

Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng đô thị Rạch Giá có 06 tầng chứa nước lỗ hổng. Các tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới gồm: Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh); Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3); Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa - trên (qp2-3); Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1); Tầng chứa nước lỗ hổng Pliocen giữa (n22); Tầng chứa nước lỗ hổng Pliocen dưới (n21).

Theo mục tiêu của đề án được phê duyệt, vùng đô thị Rạch Giá có 02 tầng chứa nước cần bảo vệ là qp2-3 và qp1. Kết quả nghiên cứu cho thấy tầng chứa nước trên cùng là qh có diện phân bố và chiều dày nhỏ, nghèo nước, nước bị mặn hoàn toàn; tầng chứa nước n22 và n21 là các tầng chứa nước nằm sâu, nghèo nước, nước bị mặn hoàn toàn; tầng chứa nước qp3, qp2-3 và qp1 là các tầng chứa nước có mức độ chứa nước từ nghèo đến giàu nước, phần lớn là nước nhạt. Hiện nay tầng qp3 và qp2-3 đang được khai thác trong vùng.

Hút nước thí nghiệm lỗ khoan RG2

Kết quả điều tra cho thấy vùng đô thị Rạch Giá có tổng số 3.120 công trình khai thác nước dưới đất, trong đó có 3.107 công trình đang khai thác quy mô <10m3/ngày và 13 công trình khai thác dự phòng quy mô ≥10 m3/ngày. Tổng lưu lượng khai thác là 2.101 m3/ngày, khai thác tại các giếng khoan khai thác quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình.

Các vấn đề tài nguyên nước dưới đất cần bảo vệ

Theo đề án phê duyệt, đô thị Rạch Giá xác định có 3 vấn đề cần bảo vệ đó là : Cạn kiệt, nhiễm mặn và sụt lún nền đất. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã xác định trên phạm vi đô thị Rạch Giá chỉ có 2 vấn đề cần phải bảo vệ theo mức độ ưu tiên, đó là : nhiễm mặn nước dưới đất và sụt lún nền đất. Nguyên nhân do hiện nay việc khai thác nước để cấp cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt trên phạm vi đô thị được bổ sung bằng hệ thống cấp nước tập trung từ nguồn nước mặt nên các giếng khai thác tạm thời ngừng hoạt động để dự phòng. Vì vậy mực nước dưới đất có xu hướng phục hồi, phân bố nông, không có nguy cơ xảy ra cạn kiệt nước dưới đất. Trong 2 tầng chứa nước cần bảo vệ chỉ có tầng qp2-3 đang được khai thác. Mực nước 2 tầng chứa nước phân bố tương đối nông. Trong đó, mực nước tầng chứa nước qp2-3 dao động từ 6,7m đến 9,0m; mực nước tầng chứa nước qp1 tại lỗ khoan RG3 của đề án thi công là 7,95m.

Biểu đồ dao động mực nước tầng chứa nước qp2-3

Vấn đề nhiễm mặn nước dưới đất

Để đánh giá nguy cơ xâm nhập mặn, đề án đã sử dụng kết quả dự báo xâm nhập mặn các tầng chứa nước ứng với kịch bản giữ nguyên hiện trạng khai thác như hiện nay đến năm 2050. Kết quả cho thấy biên mặn tất cả các tầng chứa nước trong phạm vi vùng đô thị Rạch Giá đến năm 2050 không có sự dịch chuyển đáng kể. Mặc dù chưa có nguy cơ xâm nhập mặn nhưng hàm lượng TDS tại các công trình quan trắc có xu hướng tăng theo thời gian, đặc biệt từ năm 2019 đến nay giá trị tăng đã xấp xỉ hoặc vượt giá trị giới hạn cho phép.

Hiện trạng nhiễm mặn các tầng chứa nước tại đô thị Rạch Giá

Về sụt lún nền đất

Kết quả điều tra, khảo sát thực địa chưa phát hiện dấu hiệu sụt lún nền đất. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về sụt lún đất trong khu vực cho thấy vùng đô thị Rạch Giá có sụt lún nền đất. Trên cơ sở dữ liệu nghiên cứu sụt lún nền đất vùng đồng bằng sông Cửu Long theo dữ liệu InSAR giai đoạn 2014-2019 và kết quả đo kiểm tra mốc độ cao, đề án tổng hợp, đánh giá và phân vùng sụt lún nền đất cho vùng đô thị Rạch Giá.

Kết quả cho thấy vùng đô thị Rạch Giá có mức độ sụt lún từ 0 - 50mm/năm, trong đó vùng có mức độ sụt lún 0-5mm/năm chiếm phần lớn diện tích vùng nghiên cứu; khu vực có mức độ sụt lún cao nhất (30-50mm/năm) phân bố ở ven biển phía tây thuộc phường An Hòa và An Bình của thành phố Rạch Giá (Hình 3).

Kết quả đánh giá cho thấy hoạt động khai thác nước dưới đất có tác động đến sụt, lún nền đất. Tuy nhiên, để đánh giá định lượng mức độ ảnh hưởng cần có các nghiên cứu chuyên sâu về sụt, lún đất. Trong phạm vi đề án chỉ có thể đánh giá và đưa ra nhận định về sự liên quan giữa khai thác NDĐ và sụt, lún đất.

Sơ đồ phân vùng mức độ sụt lún mặt đất khu vực đô thị Rạch Giá

Các giải pháp bảo vệ nước dưới đất ở đô thị Rạch Giá

Giải pháp 1: Khoanh định các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất

Việc khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thực hiện trên cơ sở Nghị định số 167/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính Phủ Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Kết quả tính toán xác định được trên phạm vi đô thị có 26 vùng hạn chế khai thác nước dưới đất với tổng diện tích là 37,3 km2, chiếm 91,0% diện tích đô thị.

Giải pháp 2: Xây dựng phương án khai thác nước dưới đất hợp lý

Phương án khai thác nước dưới đất phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Kiên Giang và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có liên quan đến khai thác, sử dụng nước; phù hợp với đặc điểm, khả năng nguồn nước dưới đất từng vùng, từng khu vực; khai thác nước dưới đất linh hoạt theo từng thời điểm, đối tượng khai thác và phải gắn liền với công tác bảo vệ nguồn nước dưới đất.

Kết cấu lỗ khoan RG1

Theo phương án này, lưu lượng khai thác nước dưới đất tại đô thị Rạch Giá như sau:

+ Khai thác quy mô tập trung: khai thác tại 10 giếng khai thác dự phòng với tổng lưu lượng 10.000m3/ngày (mỗi giếng khai thác 1.000m3/ngày) trong 3 tháng mùa khô (tháng 2, 3, 4) đến năm 2050.

+ Khai thác quy mô nhỏ lẻ: giảm dần lượng khai thác nhỏ lẻ đến năm 2025 là 1.294m3/ngày và đến năm 2030 là 576m3/ngày. Sau năm 2030 ngừng khai thác nước dưới đất và thực hiện trám lấp giếng theo quy định.

 Bản đồ định hướng và phương án khai thác nước dưới đất hợp lý

Giải pháp 3: Phương án phục hồi trữ lượng, chất lượng nước dưới đất

Căn cứ trên mức độ xâm nhập mặn của các tầng chứa nước cần bảo vệ, đã đánh giá phân vùng khả năng phục hồi trữ lượng, chất lượng cho các tầng chứa nước. Phương pháp để thực hiện phục hồi trữ lượng, chất lượng nước dưới đất vùng đô thị Rạch Giá được lựa chọn là phương pháp ép nước qua các giếng khoan.

Kết quả phân vùng khả năng bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất cho thấy tầng chứa nước qp2-3 có khả năng bổ sung nhân tạo từ trung bình đến cao; tầng chứa nước qp1 có khả năng bổ sung nhân tạo từ thấp đến cao. Trên cơ sở các vùng có khả năng bổ sung nhân tạo kết hợp các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất xác định được các vùng có thứ tự ưu tiên thực hiện phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất cho các tầng chứa nước này. Tầng qp2-3 đang được khai thác chính hiện tại và trong tương lai được lựa chọn để bổ sung nhân tạo nước dưới đất, khu vực thực hiện ở phía bắc vùng nghiên cứu.

Nguồn nước lựa chọn để bổ sung nhân tạo là nguồn nước mặt từ kênh Rạch Giá - Long Xuyên. Nguồn nước mặt dồi dào, chất lượng cơ bản đảm bảo, hiện đang được khai thác cho các Nhà máy nước phục vụ cấp nước tập trung. Nước mặt sau khi được loại bỏ rác, cặn thô, xử lý và giám sát chất lượng nước trước khi bổ sung vào tầng chứa nước.

Giải pháp 4: Xây dựng đới phòng hộ vệ sinh cho các công trình khai thác nước dưới đất

Các tầng chứa nước vùng đô thị Rạch Giá phân bố sâu, được phủ bởi các lớp sét, sét bột cách nước tốt, do đó, để bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất, chỉ xác định đới I theo quy định Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT. Kết quả điều tra hiện trạng khai thác nước dưới đất cho thấy vùng đô thị Rạch Giá có 13 công trình khai thác nước dưới đất (lỗ khoan) dự phòng có công suất thiết kế lớn hơn 10 m3/ngày và đều nhỏ hơn 3.000 m3/ngày. Do đó, đới I được khoanh cho tất cả các công trình này với bán kính cố định là 20m tính từ lỗ khoan.

Giải pháp 5: Thiết kế mạng lưới công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất

Vùng đô thị Rạch Giá hiện không có công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất, điểm quan trắc gần nhất Q401 (TT. Minh Lương-huyện Châu Thành, cách vùng đô thị khoảng 6km về phía nam, gồm 6 công trình quan trắc trong 6 tầng chứa nước; Đề án đã thi công 6 công trình, trong đó đưa 4 công trình đưa vào quan trắc. Ngoài ra, để hoàn chỉnh mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất, Đề án đã thiết kế bổ sung 1 công trình quan trắc. Như vậy, mạng lưới quan trắc tài nguyên nước dưới đất đô thị Rạch Giá hoàn chỉnh bao gồm 11 công trình, trong đó 10 công trình đã có và thiết kế bổ sung thêm 1 công trình quan trắc. Các công trình quan trắc được bố trí gồm 2 tuyến quan trắc với 5 điểm/11 công trình quan trắc. Tất cả các công trình đều quan trắc động thái nước dưới đất, trong đó có 1 công trình kết hợp quan trắc xâm nhập mặn tầng qp1.

Sơ đồ mạng lưới quan trắc hoàn chỉnh đô thị Rạch Giá

Đề án đã tổng hợp rà soát, cập nhật toàn bộ các thông tin, dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn vùng đô thị Rạch Giá đã thực hiện từ trước đến nay; tiến hành điều tra, đánh giá chi tiết về tài nguyên nước dưới đất và các vấn đề cần bảo vệ nguồn tài nguyên này. Vì vậy, các thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước dưới đất có độ tin cậy cao. Trên cơ sở kết quả đánh giá tiềm năng, trữ lượng, chất lượng nước dưới đất cũng như xác định các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất, đề án đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ nước dưới đất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nước, phát triển bền vững tài nguyên nước dưới đất, đồng thời phục vụ hữu ích cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đô thị.

Bài liên quan
  • Bảo vệ nước dưới đất tại đô thị Cà Mau
    (TN&MT) - Kết quả Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất tại đô thị Cà Mau do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia) triển khai thực hiện đã đưa ra các số liệu, thông tin cụ thể về điều kiện tồn tại, sự phân bố, số lượng, chất lượng của các tầng chứa nước, khả năng bảo vệ cũng như các nguyên nhân dẫn đến việc suy thoái, cạn kiệt.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đồng Nai: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng tài nguyên nước
(TN&MT) - Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh Đồng Nai, Sở TN&MT Đồng Nai đã và đang chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằn nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng tài nguyên nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh Đồng Nai.
Đừng bỏ lỡ
  • Tiền Giang: Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) - Trước tình hình hiện nay khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường, tỉnh Tiền Giang đã và đang tổ chức thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp tăng cường bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên nước (TNN) trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài, góp phần phục vụ giảm nghèo bền vững, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước hồ thủy điện Ialy tạo sinh kế cho người dân
    (TN&MT) - Trải dài trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum, hồ thủy điện Ialy không những phục vụ hiệu quả cho hoạt động khai thác thủy điện của Nhà máy thủy điện Ialy mà còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển du lịch.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước giúp người dân Sơn La thoát nghèo
    (TN&MT) - Phát huy lợi thế hơn 23.000 ha mặt nước diện tích lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình, những năm qua, tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều giải pháp khai thác, sử dụng mặt nước lòng hồ để nuôi trồng thủy sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Sớm hoàn thiện chính sách pháp luật để quản lý hiệu quả tài nguyên nước
    (TN&MT) - Đây là ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước, các doanh nghiệp tại Hội thảo "Chính sách ngành nước - phát triển bền vững" nằm trong khuôn khổ Tuần lễ Nước Việt Nam 2022.
  • Tìm “mạch ngọt” trên mỏm đá tai mèo
    (TN&MT) - Ở cao nguyên đá Hà Giang, nước có trong câu chuyện của những người đàn ông mỗi sáng, trong câu chuyện của những người đàn bà bên bếp lửa, nước ám ảnh cả trong những giấc ngủ của các em bé người Mông.
  • Đông Hòa (Phú Yên): Dân khát nước khi sống bên cạnh nhà máy nước sạch
    Công trình Trạm nước sạch xã Hòa Xuân Đông, thị xã Đông Hòa được đầu tư xây dựng gần 10 tỷ đồng và đưa vào hoạt động từ năm 2017 với công suất thiết kế cung cấp nước sạch cho hơn 1.800 hộ dân trên địa bàn xã. Tuy nhiên hiện nay, công trình này chỉ mới cung cấp nước cho khoảng 350 hộ dân.
  • Khai mạc Tuần lễ Nước Việt Nam 2022
    (TN&MT) - Sáng 10/11, tại Hà Nội, Tuần lễ Nước Việt Nam 2022 (VietNam Water Week 2022) đã chính thức khai mạc. Sự kiện do Hội Cấp thoát nước Việt Nam chủ trì, Bộ Xây dựng và Cổng TTĐT Chính phủ bảo trợ.
  • Điện Biên quản lý sử dụng các công trình thủy lợi, hồ chứa
    (TN&MT) - Xác định tầm quan trọng của nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, để nâng cao và phát huy hiệu quả các hồ chứa công trình thủy lợi, tỉnh Điện Biên yêu cầu các đơn vị trên địa bàn quản lý khai thác tốt các công trình thủy lợi; xây dựng kế hoạch phòng chống, theo dõi thông tin khí tượng thủy văn, kiểm kê nguồn nước trong công trình thủy lợi, thực hiện tưới tiết kiệm… Qua đó, các công trình thủy lợi phát huy hiệu quả, đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp của người dân.
  • Infographic: Tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp giúp nông dân giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) - Tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp là một xu hướng sản xuất của một nền nông nghiệp hiện đại, tiên tiến mang lại nhiều lợi ích về hiệu quả kinh tế lẫn môi trường. Thế nhưng việc ứng dụng hệ thống tưới tưới tiên tiến, tiết kiệm nước không phải nông dân nào cũng nhận thức được và có khả năng về nguồn vốn để đầu tư.
  • Bà Nguyễn Thị Thu Linh giữ chức Chánh Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam
    (TN&MT) - Ngày 8/11, tại Hà Nội, Bộ TN&MT đã tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định số 2889/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ TN&MT bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Thu Linh, Quyền Chánh Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam giữ chức Chánh văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam.
  • Tuần lễ Nước Việt Nam 2022 - Động lực cho sự phát triển bền vững ngành Nước
    (TN&MT) - "Tuần lễ Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2022" với chủ đề "Chính sách ngành nước - Phát triển bền vững" do Hội Cấp thoát nước Việt Nam chủ trì tổ chức lần đầu tiên sẽ diễn ra từ ngày 9-11/11 tại Hà Nội.
  • Lạng Sơn: Khai thác tiềm năng nước mặt để phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững
    (TN&MT) - Với lợi thế gần 1.300 ha diện tích mặt nước, thuận lợi để phát triển thủy sản, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân phát triển kinh tế lòng hồ, góp phần nâng cao thu nhập. Song song đó, tỉnh cũng luôn chú trọng công tác bảo vệ môi trường, nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững.
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO